làm thế nào để chữa đau đầu không phải uống thuốc


làm thế nào để chữa đau đầu không phải uống thuốc

Ðau đầu là một trong số biểu hiện thường gặp nhất trong nhiều bệnh. Khi bị đau đầu, người nhiễm bệnh thường nghĩ ngay đến việc uống thuốc giảm đau. Song, không phải lúc nào đau đầu uống thuốc cũng tốt, đặc biệt là khi bị đau thường xuyên và những người bị bệnh đau dạ dày. Những mẹo vặt sau đây có thể làm cho bạn thoát khỏi cơn đau mà không cần dùng tới thuốc:


Thiền



phần lớn bệnh đau đầu tạo nên bởi sự căng thẳng. Khi thiền, cơ thể bạn sẽ đạt được trạng thái điềm tĩnh và thư thái. Trí óc của bạn tập trung vào việc hít thở và tất cả việc này sẽ giúp bạn giải thoát mọi căng thẳng đồng nghĩa với việc kết thúc cơn đau đầu.



[​IMG]


Nghe nhạc

20 phút hàng ngày sau giờ làm việc để nghe nhạc (tốt đặc biệt là nhạc không lời, để bạn không phải tập trung suy nghĩ về bài hát và không bắt chước hát theo). Khi nghe nhạc não bộ sẽ tiết ra beta-endorphin, có tác dụng tương tự như moocphin, giúp giảm đau, giảm căng thẳng rất hữu hiệu.


Hít thở sâu

Tập hít thở sâu trong không khí trong lành rất bổ ích trong việc làm dịu chứng đau đầu. Khi bạn tập luyện hít thở sâu sẽ làm lượng serotonin tăng đáng kể. Đây là chất được não sản xuất ra giúp bạn không cảm thấy mệt mỏi, tinh thần luôn được điều hòa, chịu đựng được áp lực trong công tác và tăng khả năng tập trung.


Tắm nước nóng

Tắm dưới vòi hoa sen hoặc ngâm mình trong bồn tắm là cách sẽ làm thư giãn toàn bộ cơ thể. Nước nóng sẽ làm giãn các dây thần kinh giúp máu lưu thông lên não dễ dàng hơn, đem lại cảm giác dễ chịu.


Uống nhiều nước

Mất nước sẽ dẫn đến co cơ, 1 trong số nguyên do phổ biến gây đau nửa đầu hoặc đau đầu từng cơn. Nên uống nhiều nước lọc hoặc nước trái cây tươi để xoa dịu cơn đau. hàng đầu là dùng nước ấm để giảm thiểu những cơn đau đầu bất chợt. Không dùng những thức uống có caffeine như cà phê, vì cà phê làm co thắt các mạch máu và gây ra dấu hiệu đau đầu.


Massage bấm huyệt

Trên da đầu có rất nhiều rễ thần kinh và các huyệt đạo. Dùng ngón tay mát xa da đầu có thể nhẹ nhàng kích thích các rễ thần kinh trên da đầu giúp tăng cường chức năng tư duy của phần vỏ đại não. Bấm vào một vài huyệt ở đầu có thể làm giảm cảm giác căng đau. Các huyệt này là nơi tập trung các đầu mút thần kinh và giúp điều hòa tuần hoàn máu. vì thế, khi kích thích vào đó, bạn sẽ giúp tăng tuần hoàn máu và giúp làm dịu cơn đau.


Ngủ đủ giấc và đúng giờ

Thiếu ngủ hoặc ngủ quá nhiều đều là những nguyên do có thể gây ra đau đầu. Giấc ngủ rất quan trọng với sức khỏe. tốt nhất nên đảm bảo có đủ hai giấc ngủ trong một ngày. Giấc ngủ ngắn vào buổi trưa và giấc ngủ dài vào buổi tối. Giấc ngủ trưa nên bắt đầu vào 13 giờ vì đây là thời điểm các cơ quan rơi vào trạng thái mệt mỏi, dễ chìm vào giấc ngủ nhất. Vào buổi tối, nên đi ngủ vào khoảng thời gian 22 – 23 giờ.


Ngâm chân với nước muối

Ngâm chân trong nước muối giúp cơ thể ấm lên từ bên trong, tuần hoàn máu và sự thảo luận chất cũng trở nên thông thạo đến tất cả các bộ phận trong cơ thể giúp tinh thần thoải mái, làm cho cơn đau đầu thuyên giảm nhanh chóng.







Tác dụng của hoa ngọc lan




Ngọc lan còn được gọi là Mộc lan, Sứ, là tên gọi chung cho một số loài trong chi Ngọc lan – Michelia, họ Ngọc lan – Magnoliaceae. Chi Ngọc lan bao gồm 50 loài với dạng sống từ cây bụi đến cây gỗ lớn, thường xanh, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Nam và Đông Nam châu Á, bao gồm cả Nam Trung Quốc.

Lá, hoa và hình dáng của chi Michelia là tương tự như chi Magnolia (mộc lan), nhưng hoa của chi Michelia nói chung mọc thành cụm giữa các nách lá, hơn là mọc đơn ở đầu cành như của chi Magnolia.

 ​

Ở Việt Nam, có khoảng 20 loài thuộc chi Ngọc lan, trong số đó có khoảng 5 loài được trồng phổ biến khắp nước vì hoa thơm.

Tại Bangkok , Thái Lan hoa Ngọc Lan được xâu thành vòng và rất dể dàng nhận thấy các em nhỏ người Thái chào bán khi xe dừng tại các ngã tư.

Người Thái gọi hoa Ngọc lan là hoa Champa, đồng âm nhưng khác với hoa champa tại Lào , hoa sứ hay hoa đại cách gọi của Việt Nam.

Hoa ngọc lan, một loài thực vật thuộc họ mộc lan. Hoa ngọc lan tính ôn vị, hơi cay, có công năng tiêu đờm, ích phế, hòa khí.

Dùng hoa ngọc lan 5g tẩm mật ong trong 3 ngày rồi sắc uống như trà, có thể dưỡng phế nhuận yết hầu, điều lý trường vị, chữa trị ho do không khí không tốt, ngực và cách mạc đầy trướng và đau, đầu vựng mắt hoa…

[​IMG] ​

Hoa ngọc lan nở vào tháng hai, kết quả vào tháng 6 – 7. Vào mùa xuân, khi nụ hoa chưa nở, thu hoạch, cắt bỏ cành, phơi khô là dùng được. Nụ hoa ngọc lan có tác dụng giáng áp, hưng phấn tử cung, gây tê cục bộ và kháng bệnh độc. Hoa ngọc lan có khả năng khư phong, thông khiếu, chữa trị đau đầu, ty uyên, mũi tắc không thông, đau răng…người âm hư hỏa vượng cấm dùng.

Nhiều bộ phận của cây ngọc lan có tác dụng làm thuốc:

- Hoa: Thu hái khi mới chớm nở, dùng tươi hoặc phơi sấy nhẹ cho khô. Dược liệu có vị đắng, cay, tính ấm dùng chữa ho, viêm mũi, xoang, hoa ngọc lan dùng làm thuốc phải là loại mới chớm nở, dùng tươi hoặc sấy nhẹ cho khô.

- Lá: Dùng chữa viêm phế quản mãn tính ở người già. Ngoài ra, lá ngọc lan (bánh tẻ) rửa sạch, giã nát, đắp chữa mụn nhọt sưng tấy.

 ​

- Vỏ thân cây: Lấy vỏ thân cây cạo lớp vỏ mỏng bên ngoài, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô, dùng sống hoặc tẩm giấm sao vàng. Lấy 30g sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày để chữa sốt, kinh nguyệt không đều, đại tiện khó.

Một số bài thuốc hay từ hoa ngọc lan:

Giúp da thêm trắng:hoa ngọc lan 10g, trà xanh 8g.Bóc từng cành hoa ngọc lan, rửa sạch hoa bằng nước muối, để ráo nước, cho vào trong chén. Rót nước đang sôi vào chén, sau đó cho trà xanh vào, đợi có mùi hương bay ra là có thể uống. Có tác dụng tăng cường chuyển hóa cơ bản, giúp da thêm trắng.

- Chữa vô sinh: 10g hoa ngọc lan chưa nở sắc uống thay trà, vào buổi sớm. Cứ 30 ngày một liệu trình, có thể cải thiện thống kinh và vô sinh nữ.

[​IMG] ​

- Trị ho trừ đờm, lợi tiểu tiện: Hải triết 2 mảnh, dưa hồng 1 quả, cà rốt 1 củ, tỏi 5 củ, hoa ngọc lan 15g. Gia vị gồm dấm trắng 1 thìa to, dầu thơm 1 thìa nhỏ, xì dầu 1 thìa, đường 1 thìa. Hải triết bì dùng nước ngâm nhiều lần rồi rửa sạch, khử mùi tanh. Dưa hồng rửa sạch, bỏ đầu, cuống và tua, thái nhỏ như tơ. Cà rốt cạo vỏ ngoài, thái nhỏ. Hoa ngọc lan rửa sạch, bóc cánh rồi thái nhỏ.

Cho tất cả các nguyên liệu trên trộn đều với nhau, thêm gia vị sau đó rắc hoa ngọc lan lên trên là được. Bài thuốc này có tác dụng trị ho đờm, lợi tiểu tiện.

- Trắng da, tiêu hóa tốt: Hoa ngọc lan 6g, trà xanh 1 thìa. Bóc từng cánh hoa ngọc lan, rửa sạch hoa bằng nước muối, để ráo nước, cho vào trong chén. Rót nước đang sôi vào chén, sau đó cho trà xanh, đợi có mùi hương bay ra, có thể uống thay trà.

- Chữa sốt, kinh nguyệt không đều, tiểu tiện khó: Lấy vỏ thân cây ngọc lan, cạo sạch lớp vỏ ngoài, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô. Lấy 30g vỏ sắc với 400ml nước cho đến khi còn 100ml uống 2 lần trong ngày.

[​IMG] ​

- Chữa sưng tấy: Lấy lá ngọc lan loại non và bánh tẻ rửa sạch, giã nát, đắp vào chỗ sưng tấy.

- Chữa viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi: Lá ngọc lan 30g, lá cây gừa 30g, giun đất đã chế biến 5g thái nhỏ, phơi khô sắc uống.

- Chữa ho: Hoa ngọc lan 30g, mật ong 40g, cho hai thứ vào hấp cách thủy trong 20 – 30 phút để ăn.

- Chữa đau bụng kinh ở phụ nữ: Ngọc lan 20g, ý dĩ nhân 30g, hạt đậu ván trắng 30g, hạt mã đề 5g sắc uống trong ngày.

- Chữa bạch đới, khí hư: Hoa ngọc lan 20g, hạt ý dĩ 30g, đậu ván trắng 30g, hạt mã đề 5g sắc uống trong ngày.
[​IMG] ​
- Chữa viêm xoang: Lấy hoa ngọc lan lúc còn xanh, sấy khô giòn, tán và rây thành bột mịn đựng vào lọ kín. Khi bị chảy nước mũi, mở lọ ngửi và hít mạnh để bột thuốc bay vào mũi, ngày làm 2 – 3 lần.

Ngọc lan hoa trắng chữa đau đầu

Ngọc lan hoa trắng là loại hoa mọc nhiều ở các vùng miền nước ta, được trồng làm cảnh vì hoa đẹp và có mùi thơm quyến rũ.

Mùa hoa và quả vào tháng 4 - 9 hằng năm, người ta thu hái hoa và lá, rễ ngọc lan đem phơi khô hoặc để tươi dùng làm thuốc chữa nhiều bệnh.

Theo đông y, ngọc lan hoa trắng có vị đắng cay, tính hơi ấm, tác dụng lợi tiểu, long đờm, chữa ho, ho gà, đau đầu, chóng mặt, viêm phế quản, đau ngực, viêm tuyến tiền liệt, bạch đới. Liều trung bình cho mỗi thang thuốc sắc là 6 g - 12 g. Lá dùng chữa viêm phế quản mãn tính, bệnh đường tiết niệu...

[​IMG] ​

Dưới đây là vài phương thuốc trị bệnh từ ngọc lan hoa trắng.

-Chữa đau đầu: Ngọc lan hoa trắng 8 cái, hoa nhài 10 cái, lá hoa sen 20 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Dùng trong 5 ngày liền.

Chữa viêm phế quản: Ngọc lan hoa trắng 7 hoa, hoa hồng bạch 5 hoa, mật ong 15 ml. Tất cả cho vào bát hấp cách thủy, chia 3 lần uống trong ngày. Uống liền 3 - 5 ngày.

Chữa đái dắt: Rễ ngọc lan hoa trắng 15 g, râu ngô 20 g, rau dấp cá 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Dùng 5 - 7 ngày.

[​IMG] ​

Chữa ho gà: Ngọc lan hoa trắng 8 hoa, lá chanh 10 g, gừng 3 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Uống 5 ngày liền.

Tác dụng của hoa súng


Hoa súng có tên gọi khoa học là Nymphea, thuộc họ: nymphéacées. Hoa súng còn có nhiều tên gọi khác: huệ nước, nữ vương của sông hồ, hoa hồng của nước... Hoa súng xuất xứ từ chữ “Nympho” để chỉ những nữ thần trong thần thoại Hy Lạp, đây là những nữ thần trẻ trung, xinh đẹp sống ở sông, suối, ao hồ. Và khi nhìn hoa súng hồng nhạt, với cái vẻ thanh tú và sắc hồng dịu dàng của nó bất giác người ta liên tưởng đến loài hoa mang ý nghĩa tượng trưng cho sự lãng mạn, dễ chịu cho tâm hồn.

Thêm một truyền thuyết của người Hy Lạp cho rằng một nữ thần đã chết vì yêu say đắm Hercules - người hùng đã hất hủi nàng, nhưng để tưởng niệm muôn đời, ông đã hóa nàng thành Hoa Súng. Tại nhiều nơi, hoa súng còn là biểu tượng của sự thủy chung, son sắc.

[​IMG] ​

Cây hoa súng có nguồn gốc trong vùng Tiểu lục địa Ấn Độ. Cây đã lan rộng qua các nước khác từ thời cổ đại và trong một thời gian dài giá trị như một loài hoa trong vườn hoa ở Thái Lan và Myanmar để trang trí cho những hồ và vườn tược. Ở Việt Nam có 3 chi là Nymphaea, Euryale và Barclaya với khoảng 5 loài, thường sống hoang dại trong ao, mương, kinh rạch đầm lầy, bầu láng, khắp mọi khu vực của Việt Nam. Trong đó địa danh Đồng tháp Mười là nơi có nhiều bông Súng có nhiều nhất ở Việt Nam.

Bông súng Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới, nên đa phần sáng nở, chiều tóp lại, nên dân quê chống xuồng nhổ bông súng là đi từ sáng sớm, lúc mặt trời chưa mọc. Súng là loài cây thảo thủy sinh, có hình dạng đẹp như cây sen nên thường được trồng trong hồ, ao của đình, chùa, trong hồ non bộ. Nhiều nơi, người dân trồng làm cảnh, thực phẩm và làm thuốc.

Lá súng hình tròn, lá đơn, mọc cách. Hoa xếp xoắn vòng: lá đài 4 - 12 (thường 5 - 6) đôi khi có màu và lớn hơn cánh hoa như ở chi Nuphar. Cánh hoa nhiều, xếp lợp (ở chi Nuphar cánh hoa rất nhỏ và có dạng vảy). Nhị nhiều, xếp xoắn. Bộ nhụy gồm 5 - 35 lá noãn, hợp nguyên lá noãn với bầu thượng, trung hoặc hạ. Căn hành trơn trơn, có chồi. Cây bông súng có khả năng tái sinh rất nhanh.

[​IMG] ​

Theo Đông y, bông súng có tác dụng giúp làm dịu dục, chống co thắt, an thần, trợ tim, trợ hô hấp, tăng cường sinh lực; thường được sử dụng trong các trường hợp tình dục bị kích thích, di tinh, mộng tinh, mất ngủ, tim đập nhanh, kiết lỵ, tiêu chảy, ho, viêm bàng quang, viêm thận, tiểu buốt, tiểu són, đau lưng, mỏi gối do thận yếu.

Chữa mất ngủ an thần: Hoa súng 15 - 30g. Sắc 200ml nước còn lại 50ml, uống 1 lần trong ngày, uống 7 - 10 ngày liền. Hoặc phối hợp với các vị khác: Hoa súng 15g, tâm sen 10g, hoa nhài 10g. Tất cả các vị này đều sấy khô tán nhỏ để hãm với nước sôi và lấy nước uống 2 lần trong ngày. Uống liền nhiều ngày.

Chữa đái dắt, viêm bàng quang: Hoa súng 15g, râu ngô 15g, rễ cỏ tranh 10g, rau má 10g, rau diếp cá 10g. Sắc lấy nước uống 2 lần trong ngày.

Làm thuốc bổ thận: Rễ củ súng 40g, thục địa 40g, thạch hộc 30g, hoài sơn 30g, táo nhân 20g, tỳ giải hoặc thổ phục linh 20g. Thục địa thái mỏng chưng cách thủy, sau đó giã nhuyễn. Các dược liệu còn lại phơi khô sao vàng tán thành bột nhỏ mịn rồi trộn với thục địa đã giã nhuyễn cùng mật ong để viên hoàn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g. Hoặc lấy rễ hoa súng 20g, ba kích 12g, cẩu tích 12g, tỳ giải 12g (tẩm rượu sao), hà thủ ô chế với đậu đen 12g, ngưu tất 12g. Tất cả sắc với 400ml nước còn lại 100ml chia 2 lần uống trong ngày.

Thuốc viên hoàn: Tác dụng chữa thận hư, tâm can suy nhược, di tinh, mộng tinh, hoạt tinh, đau lưng, ù tai, viêm ruột mạn, khí hư ở nữ, trẻ đái dầm. Thành phần dược liệu: Rễ hoa súng 15g, quả kim anh 15g, mật ong vừa đủ làm hoàn.

[​IMG] ​

Cách bào chế: Rễ hoa súng cạo bỏ vỏ ngoài, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô rồi sao qua, lấy 15g. Quả kim anh cạo hết gai, bổ đôi, nạo sạch hạt và lông rồi cũng sao vàng, lấy 15g. Hai vị trên tán nhỏ mịn, trộn với mật ong để viên hoàn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần từ 5 - 10g.

Chữa cảm nắng: Vị thuốc tuyệt vời chữa cảm nắng: Lấy rễ hoa súng nấu chè ăn trong ngày.

Chữa ho, rát cổ, sốt cao: Lấy rễ hoa súng phơi khô, sau nấu lấy 2 lần nước để cô thành cao lỏng, cho đường làm thành si-rô mà uống, ngày uống 2 - 3 lần, cần uống vài ngày liền.

Một số tác dụng chữa bệnh của cây hoa súng

Cây súng mọc nhiều ở đầm ao, thân rễ ngắn, có nhiều củ con. Theo Y học cổ truyền, các bộ phận của cây được dùng làm thuốc thanh nhiệt, chống say nắng, cầm máu... Đặc biệt, nó còn trị hiệu quả chứng co giật ở trẻ, đau lưng mỏi gối, nam bị di tinh hoặc phụ nữ khí hư bạch đới.​

Một số bài thuốcNam được dùng trong dângian:

Chữa nam di tinh, đái nhiều, nữ khí hư bạch đới không dứt: bài thuốc gồm củ súng sao, kim anh bỏ hạt ở trong vì có độc, lấy lớp vỏ bao ngoài, đốt cho cháy sạch lông gai, sao giòn. Các vị lượng bằng nhau, tán bột uống mỗi ngày 15-20 g với nước sắcrễ ý dĩ làm thang.

[​IMG] ​

Chữa thận hư, tỳ yếu, đau mỏi ngang thắt lưng: củ súng 20 g, ba kích, cẩu tích, tỳ giải (tẩm rượu sao), hà thủ ô (chế với đậu đen đồ phơi 9 lần), ngưu tất mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang.

Giải cảm nắng: củ súng nấu chè ăn.

Chữa suy nhược cơ thể, hay đổ mồ hôi trộm, di tinh: củ súng nấu chín, bóc vỏ 400 g. Củ mài nấu chín, bóc vỏ 800 g. Phơi khô tán nhỏ, mỗi lần dùng 10 g nấu thành chá oăn hằng ngày lúc đói. Bài thuốc này còn có tác dụng bồi bổ, ích chí, mạnh tinh.

Chữa hen suyễn ở ngườigià và trẻ em: củ súng và hạt cải củ, hai thứ lượng bằng nhau, đem đồ chín, phơi khô, tẩm nước cốt gừng, tán nhỏ thành bột, luyện vớimật ong thành viên hoàn bằng hạt ngô đồng, ngày uống 50 viên với nước sôi. Bài thuốc còn có tác dụng bổ dưỡng, giảm ho, cắt cơn hen.

Ngày nay, qua rất nhiều nghiên cứu hàng đầu thế giới, hoa súng đã được công nhận về công dụng dưỡng trắng dịu nhẹ đối với da tổn thương và da nhạy cảm. Cùng tìm hiểu những công dụng của tinh chất hoa súng đối với làn da.​

Tác dụng làm đẹp của tinh chất hoa súng

Hoạt chất chiết xuất từ hoa súng có khả năng làm trắng dịu nhẹ, đặc biệt thích hợp sử dụng cho làn da nhạy cảm và da bị tổn thương bởi ánh nắng mặt trời.

[​IMG] ​

- Cùng với các tế bào sừng, các lipid biểu bì rất cần thiết cho chức năng rào cản của da. Chúng tạo thành “vữa hồ“ hay là “xi măng” của lớp tế bào sừng. Những tổn thương đối với màng tế bào này sẽ thể hiện rõ rệt trên làn da. Ví dụ: da khô là da thiếu lớp lipid sinh lý ở thượng bì, làm tăng mất nước qua da và biểu hiện là da mỏng, dễ tổn thương và dễ bong tróc, nứt nẻ. Tinh chất hoa súng có tác dụng phục hồi lớp lipid trên da và tăng cường bảo vệ da.

- Cung cấp các yếu tố cần thiết (amino acid) giúp tái cấu trúc da nhanh chóng sau các tổn thương (do mụn, do tác động của ánh nắng, do khói bụi, …).

- Giúp da sáng đẹp rõ rệt và giảm đáng kể các đốm sẫm màu đối với da bị đốm, da nám sạm và tàn nhang.

- Cuộc sống hiện đại với những mối lo không tưởng tác động không nhỏ đến làn da như khói bụi, môi trường ô nhiễm, tia UV, các kích thích từ bên ngoài, mụn, … Những tác nhân trên không những gây stress cho da, mà còn khiến tình trạng da ngày càng xấu đi và thể hiện rõ rệt ra bên ngoài. Tinh chất hoa súng giúp giảm đáng kể sự hình thành melanin bởi các tác nhân trên, tránh được các biểu hiện xấu bên ngoài như nám da, tàn nhang và mụn.

- Ức chế sự hình thành các tác nhân gây kích ứng giúp giảm kích ứng da (do mụn, do tác động của ánh nắng, do khói bụi, …), bảo vệ da chống lại sự lão hóa

- Bảo vệ da dưới tác động của ánh nắng mặt trời, duy trì sức khỏe cho làn da.

[​IMG]

- Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy, Undecylenoyl Phenyalanine cũng có tác dụng ức chế quá trình tạo thành Melanin bằng sự kết hợp của nhiều cơ chế, giúp hết các sắc tố đen, làm da trắng sáng nhanh chóng. Với sự kết hợp của cả tinh chất hoa anh đào và Undecylenoyl Phenyalanine, hiệu quả ngăn ngừa hắc sắc tố melanin, trị nám da và giúp trắng sáng được chứng minh hiệu quả hơn đến 60% so với sử dụng đơn độc từng thành phần.​


Tham khảo thêm về cách trồng hoa súng

Các loài súng sinh sống ở các khu vực ao, hồ và đầm lầy, với lá và hoa nổi lên trên mặt nước. Lá súng hình tròn, các chi Nymphaea và Nupharcó lá bị khía chữ V nối từ mép lá tới phần cuống lá, nhưng chi Victoria lại có lá hoàn toàn tròn và không bị khía. Lá đơn, mọc cách. Hoa xếp xoắn vòng: lá đài 4 - 12 (thường 5 - 6) đôi khi có màu và lớn hơn cánh hoa như ở chi Nuphar. Cánh hoa nhiều, xếp lợp (ởchi Nuphar cánh hoa rất nhỏ và có dạng vảy). Nhị nhiều, xếp xoắn. Bộ nhụy gồm 5 - 35 lá noãn, hợp nguyên lá noãn với bầu thượng, trung hoặc hạ. Tổng cộng 4-6 chi và khoảng 60-80 loài (tùy theo hệ thống phân loại), phân bố rộng khắp thế giới. Ở Việt Nam có 3 chi là Nymphaea, Euryale và Barclaya vớikhoảng 5 loài.

Theo phân loại của nghề làm vườn thì các loài súng bao gồm 2 thể loại chính là: súng chịu rét và súng nhiệt đới. Các loài súng chịu rét chỉ nở hoa vào ban ngày còn các loài súng nhiệt đới có thể nở hoa vào ban ngày hoặc ban đêm cũng như là nhóm duy nhất có chứa các loài súng với hoa có màu xanh lam.

Khả năng tồn tại của hạt súng theo thời gian là rất dài, vào khoảng 2000 năm.

[​IMG]

Hoa súng có thể có mùi thơm (chẳng hạn loài súng thơm Nymphaea odorata). Hiện nay, tồn tại khoảng vài trăm giống hoa súng khác nhau.​

Hoa Súng - cách trồng và công dụng chữa bệnh

Để hoa sen, súng nở quanh năm: cắt bỏ tất cả các bông hoa đã chết khi chúng chìm xuống và cắt sát tậncuống đồng thời loại bỏ tất cả các lá đã chết hoặc đang héo. Đối với cây sen nếu bị chết cần cắt bỏ hết phần thân trên chỉ chừa lại khoảng 10 – 15 cm phía trên củ rễ, cứ để như vậy và đến đầu hè sẽ mọc trở lại. Súng cần thời tiết ấm và sẽ mọc lại khi nhiệt độ nước lên đến 22o C. Đồng thời cần bón phân và phun thuốc địnhkỳ để súng có bộ lá to, mướt và tạo ra những bông hoa đẹp và thơm.

Bón phân: Bón gốc: Bón luân phiên giữa NPK 16-16-8S và NPK 12-12-17-9 TE địnhkỳ 1 tuần/1 lần. Đối với chậu Þ = 30 cm cho 5g/chậu, đối với chậu lớn hơn là 10g/chậu.

Bón lá: Dùng ba lá xanh Growmore 30-30-11 cho mùa nắng và 6-30-30 cho mùa mưa. Nếu cây phát triển chậm có thể dùng thêm Atonik cho cây mau phục hồi.

[​IMG]

Phun thuốc: Có thể phun kết hợpvà luân phiên các loại thuốc tùy loại bệnh hoặc sâu như: Confidor, Lanatte, Kasumin, Dithane, Slug Super…

Bổ sung bùn vào các chậu sen, súng 3 tháng/lần.

Cần lưu ý là cây sen, súng không chịu được nước có độ mặn cao và không nên bón Ure vào mùa mưa vì cây sẽ mọc vống cao và yếu, đồng thời không bón bánh dầu cho cây vì sẽ gây thối thân cây.

Trồng hoa súng trong những bồn hay chậu lớn làm bằng plastic hoặc sành, sứ. Những chiếc bồn này cần đủ rộng để thân rễ mọc lan ra. Vì thân rễ của loại cây này chủ yếu mọc lan trên mặt đất chứ không cắm sâu, vì vậy cần loại bồnrộng hơn là sâu. Tốt nhất bạncần dùng bao tải cũ lót phía dưới để cho đất không bị rơi ra qua các vết nứt.

Chất trồng hoa súng hoa là bùn hoặc đất (ngâm đất vào nước khoảng 1 tuần, bóp nát đất là có thể trồng được).Vật để trồng súng là ang, chậu (đường kính từ 40 cm trở lên là được, sâu khoảng 30 – 40 cm, bịt kín lỗ), thùng xốp v.v.v. Vật trồng càng to, rộng, nhiều bùn đất, phân bón thì cây càng phát triển tốt, lá và hoa càng to. Vật trồng càng nhỏ, phân bón kém thì lá và hoa sẽnhỏ hơn.

[​IMG]

Độ sâu lý tưởng để trồnghoa súng là 30 – 40 cm , chiều cao mặt nước tính từ cuống lá là 4- 5 cm , nếu trồng sâu quá cây sẽ chỉ có nhiều lá mà ít có hoa thậm chí cây sẽ chết.

Phân bón cho hoa súng là phân bánh dầu, phân vi sinh, NPK, phân chuồng đã ủ hoai mục (cho vào bùn đất trước khi trồng cây) . Với phân vi sinh, NPK bón 1 thìa café (gói vào giấy báo, 1 hoặc 2 tháng 1 lần) cho dưới gốc cây để cây phát triển tốt nhất.

Hoa súng là loại cây sân vườn (không có hoa hoặc chết nếu trồng trong nhà), cây cần ít nhất 6 – 7 h ánh sáng mặt trời để cây có quang hợp và có hoa thường xuyên.

Mỗi bông hoa súng thường nở được 3 ngày, sau 3 ngày sau ta ngắt bông hoa để cây có sức nuôi bông khác (ta ngắt sát gốc cây). Tương tự như thế với lá súng khi vàng úa ta cũng ngắt đi để cây ra nhiều lá khác.

[​IMG] ​

Khi trời tiết quá nóng ta nên tưới cho súng, sen vào buổi chiều mát để cây không mất sức (cây ưanắng nhưng dễ cây phải mát).

Hoa súng sinh sản từ hạt , từ lá và từ củ ( với loại lá dày, cứng)​

Tác dụng của hoa cẩm chướng


Hoa cẩm chướng (Carnation) có tên khoa học là Dianthus cariophyllus L, thuộc họ Caryophyllaceae, có nguồn gốc từ Địa Trung Hải và chuyển vào Việt Nam từ nửa đầu thế kỷ XX. Tên gọi khoa học Dianthus có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp dios - thần, thánh và anthos - hoa, và nó được nhà thực vật học Hy Lạp Theophrastus (khoảng 370 TCN - 285 TCN) đặt ra. Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 300 loài và có rất nhiều giống lai khác đối phiến lá nhỏ dày, dài, không có răng cưa, mặt lá thường nhẵn.

[​IMG] ​

Đông y cho rằng, cẩm chướng có vị đắng, tính hàn, tác dụng lợi tiểu, thông lâm, hoạt huyết, thông kinh, chữa đái buốt, đái dắt, đái ra máu, đái ra sỏi, bệnh sỏi thận, tiểu tiện không thông, bế kinh, phù thũng, trừ giun, lá dùng chữa tắc ruột. Không dùng cho phụ nữ có thai vì cẩm chướng có tác dụng gây sẩy thai.

Sau đây là những phương thuốc chữa bệnh dùng từ cây hoa cẩm chướng
1. Chữa sỏi thận

Tác dụng điều trị bệnh sỏi thận với công thức và liều lượng uống như sau: Cẩm chướng 10g, kim tiền thảo 8g, xơ mướp 5g, râu ngô 8g, thuốc sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần, mỗi lần 60ml, cần uống trong 7 ngày liền là một liệu trình. Nghỉ giữa các liệu trình là 3 ngày. Phải uống 3 liệu trình.
2. Chữa tiểu ra máu

 ​

Cẩm chướng 10g, rau má 18g, rễ cỏ tranh 8g, rễ cỏ xước 5g. Sắc uống ngày 1 thang, chia ra nhiều lần uống. Cần uống liên tiếp 3 ngày.
3. Chữa bế kinh

Cẩm chướng 15g, ngải cứu 10g, ích mẫu 8g, củ nghệ 5g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần, mỗi lần uống 50ml, cần uống 5 ngày liền, trước kỳ kinh 10 ngày.
4. Chữa tiểu tiện bí

Cẩm chướng 10g, hành (cả rễ, củ, lá) 5 củ, mướp non 20g. Tất cả cho vào đun kỹ lấy nước uống nhiều lần trong ngày.



Trong lịch sử, hoa cẩm chướng cũng đã được nhắc đến vào thế kỷ 13, khi đội quân Thập tự chinh bị tấn công bởi dịch bệnh, gần Tunis. Người ta đã trộn lá cẩm chướng với rượu và uống nó để trị những cơn sốt dữ dội.

Trong cuốn sách nghiên cứu về thảo mộc thế kỷ 16, John Gerard đã viết rằng, hoa cẩm chướng và đường, chế thành mứt được dùng để chữa những cơn sốt và giải độc.

[​IMG]

Người ta còn dùng hoa cẩm chướng trong sản xuất hương bia, rượu vang và chế thuốc nhuộm tóc đen.

Tác dụng của hoa cẩm tú cầu


Đây là loài hoa đẹp nhưng không có tác dụng tốt cho sức khỏe, hoa cẩm tú cầu mọc thành những chùm hình tròn như quả cầu là cây hoa được trồng phổ biến trong sân vườn. Nhưng nếu ăn những bông hoa này, bạn sẽ bị đau bụng trong nhiều giờ. Trường hợp nặng có thể dẫn đến hôn mê và co giật. Những hạt phấn nhỏ do hoa cẩm tú cầu phát tán ra tiếp xúc với người sẽ làm cho da của người bị dị ứng


 ​

THAM KHẢO THÊM 1 SỐ THÔNG TIN KHÁC VỀ HOA CẨM TÚ CẦU:

Sắc màu huyền ảo diệu kỳ của hoa Cẩm Tú Cầu

Hoa cẩm tú cầu có vẻ đẹp vừa thơ mộng lại vừa hoang dã. Loài cây thật đặc biệt, có thể chuyển tiếp nhiều màu sắc trên cùng một bông hoa, nhiều hoa khác màu nhau trên cùng một cây từ xanh ngọc, hồng phớt, xanh lam, xanh biếc, tím nhạt đến tím đậm …và những màu sắc có thể có được theo sự chuyển tiếp của thời tiết nơi cây sinh sống hay sự phụ thuộc vào độ pH của đất.

Hoa Cẩm Tú Cầu hay còn gọi là: Hoa Bát Tiên, Dương Tú Cầu, Hoa Tử Dương, và tiếng Anh gọi là Hydrangea.

Hoa Cẩm Tú Cầu tượng trưng cho lòng biết ơn và những cảm xúc chân thành.

Một bó hoa tú cầu thể hiện sự biết ơn của người tặng cho sự hiểu biết của người nhận và hoa cũng là biểu tượng đại diện cho bất cứ điều gì đó là chân thành.

 ​

Cẩm tú cầu hay hortensias, chi Tú Cầu (danh pháp khoa học: Hydrangea) là một chi thực vật có hoa trong họ Hydrangea macrophylla tú cầu – bát tiên (hydrangeaceae), có nguồn gốc từ vùng ôn đới, bao gồm khoảng 75 loài tự nhiên tập trung ở Đông Á (từ Nhật Bản đến Trung Quốc), Nam Á, Đông Nam Á (Hymalaya, Indonesia) và Châu Mỹ.​

Hoa tú cầu đầu tiên mọc ở Nhật, Hàn Quốc và Trung Quốc.

Nhưng trên thế giới cẩm tú cầu cực kỳ phổ thông ở Azores thuộc Bồ Đào Nha, nhất là ở Faia Island. Ở đảo Faia hoa cẩm tú cầu nhiều đến độ đã mang lại cho hòn đảo cái tên gọi Blue Island. Cẩm tú cầu thuộc loại tiểu mộc nhỏ cao từ 1-3m. Lá mọc đối, rộng, bìa có răng, hoa vô tính, nhiều màu sắc, lúc đầu hoa màu trắng sau biến dần thành màu lam hay màu hồng…., màu hoa phụ thuộc vào độ pH của thổ nhưỡng, ưa bóng râm ẩm thấp.

Một trong những vẻ kỳ diệu của hoa Cẩm Tú Cầu là sự đổi màu ngoạn mục của nó. Sắc màu của tú cầu dao động từ màu trắng sang màu xanh sang màu hồng và màu tím, xác định bởi mức độ chua của đất.

Trong hoa cẩm tú cầu có sắc tố anthocyanin màu đỏ, đây là gốc màu của cẩm tú cầu và nó có thể tạo nên hợp tố phức với chất nhôm (aluminum) và đổi thành màu xanh da trời hay các màu khác, nên ta có thể thấy có những cụm hoa khác màu nhau trên cùng một cây.

[​IMG] ​

Hầu hết các loài tú cầu có hoa màu trắng, tuy nhiên vài loài (điển hình là H. macrophylla) có màu hoa thay đổi phụ thuộc vào độ pH của đất, nếu đất có độ pH nhỏ hơn 7 (đất chua) sẽ cho hoa màu lam, nếu đất có độ pH là 7 thì cây cho hoa màu trắng sữa, nếu đất có độ pH lớn hơn 7 cây cho hoa màu hồng hoặc màu tím nên có thể điều chỉnh màu hoa thông qua việc điều chỉnh độ pH của đất trồng.

Tên Hydrangea gốc Hy Lạp, có nghĩa là cái chén nước (water- vessel).

Loài hoa này có nhiều hoa thật nhỏ có cánh mỏng manh chen chúc, xếp lên nhau tạo thành từng chùm hoa to tròn. Hoa Cẩm Tú Cầu thường nở rộ từ mùa hè đến mùa thu với nhiệt độ từ 55 đến 95F, nhiều nhất vào mùa hè. Hoa Tú cầu đổi màu liên tục trong một chu kỳ nở, lúc đầu hoa màu xanh ngọc, kế đến là trắng hay màu nguyên thủy của cây rồi sau đó chuyển dần thành màu lam, màu hồng, màu tím, … rất đẹp.

Hoa mọc thành những chùm hình tròn như quả cầu, được trồng phổ biến trong sân vườn.

Tất cả bộ phận của cây chứa độc tố có thể gây ngộ độc ở người khi ăn phải. Nếu ăn những bông hoa này, bạn sẽ bị đau bụng trong nhiều giờ. Trường hợp nặng có thể dẫn đến hôn mê và co giật.

[​IMG] ​

Những hạt phấn nhỏ do hoa cẩm tú cầu phát tán ra tiếp xúc với người sẽ làm cho da của người bị dị ứng.

Nhưng thật ra hoa Tú cầu có rất nhiều loại giống khác nhau nên không hẳn là hoa Tú cầu nào cũng có độc tố gây ngộ độc. Vì thế những người yêu hoa vẫn thích trồng hoa Tú cầu trong vườn nhà của mình, bạn chỉ cần tìm hiểu kỹ hơn khi chọn hoa cho mình mà thôi.

Muốn hoa có màu lam vào mùa hè, mùa thu: bón dung dịch clorua sắt hay có thể chôn vài cây đinh gỉ vào gốc cây hoặc cũng có thể trôn vào đất một ít clorua nhôm, clorua magie. Muốn hoa có màu hồng có thể bón vào đất một ít vôi bột.

Ở nhiệt độ thích hợp cây rất dễ nhân giống bằng cách giâm cành. Chỉ cần cắt một cành vừa tuổi (cành bánh tẻ) cắm xuống đất tưới nước vừa đủ có thể trở thành cây con, thời điểm nhân giống tốt nhất là vào mùa Xuân.

Hoa Cẩm Tú Cầu tượng trưng cho lòng biết ơn và những cảm xúc chân thành. Với màu sắc dịu dàng, nó có thể đứng chung với rất nhiều loại hoa khác nên được dùng rất nhiều trong tiệc cưới, trang trí nhà cửa và làm quà tặng…

[​IMG] ​

Có nhiều sự tích, truyền thuyết xoay quanh những đóa hoa kiều diễm này. Theo một câu chuyện kể khá ly kỳ về tên gọi Hortensia của loài này là: nhà nghiên cứu thực vật Philibert Commerson vào giữa thế kỷ 18, đã cùng với một trợ lý và cũng là đồng nghiệp trẻ của mình tên là Jean Baret, đã cùng vượt qua cuộc hành trình gian khổ với những cơn bệnh rừng nhiệt đới ngặt nghèo. Thế rồi ở Tahiti họ đã tìm thấy loài hoa tuyệt đẹp mọc thành từng cụm to như cái chén lớn; nhưng cũng ở đó Jean Baret đã bị lộ khi “anh” cố tránh né những lời tán tỉnh của một tù trưởng Tahiti, vì thực chất Jean là Jeanne, một cô gái. Kết thúc cuộc thám hiểm, người trợ lý vẫn ở cạnh và trở thành quản gia cho Commerson đến khi nhà nghiên cứu trút hơi thở cuối cùng. Jean Baret sau đó đã tái hôn và đổi tên mình thành Hydrangea Hortensia, chính là tên gọi theo phương Tây của hoa Tú Cầu. Do vậy nhiều người cho rằng tên hoa được đặt theo tên gọi của nhân vật nữ trong truyền thuyết kể trên.

Lại có một truyền thuyết khác về hoa Cẩm Tú Cầu: Có một công chúa La Mã đã đến tuổi cập kê nhưng bao nhiêu người nhà Vua mai mối, công chúa vẫn không ưng thuận. Trong một chuyến kinh lý, gặp ý trung nhân trên đường, công chúa cầm hoa Cẩm Tú Cầu ném vào người mà nàng để ý. Hoa Tú Cầu theo truyền thuyết này có tên dân gian là hoa Cầu Hôn.​

[​IMG] ​

Cách chăm sóc hoa cẩm tú cầu

Cẩm tú cầu là cây thân mộc, hoa vô tính, lúc đầu hoa màu xanh ngọc sau biến dần thành màu trắng, màu lam hay màu hồng….; màu hoa phụ thuộc vào độ pH của thổ nhưỡng, ưa bóng râm ẩm thấp. Tất cả bộ phận của cây đều có chứa độc tố có thể gây ngộ độc ở người khi ăn phải. Họ hoa tú cầu, dạng hoa hình đĩa, có nhiều hoa nhỏ cánh mỏng manh chen chúc, xếp lên nhau tạo thành từng chùm hoa to tròn, là những thực vật nước hay đầm lầy.

Cẩm tú cầu là món quà thay cho lời cảm ơn với thông điệp: “Thank you for understanding”.

Và với một số khác, hoa tú cầu lại mang ý nghĩa: Sự lạnh lùng, vô cảm (Frigidity, Heartlessness, Carelessness).

Tôi không hiểu sao hoa tú cầu lại có ý nghĩa lạnh lùng và vô cảm, trong khi hoa nở từ mùa hè, đến cuối mùa thu trên cây tú cầu vẫn còn những bông hoa đượm sắc màu dịu ngọt hay đổi màu thành màu huyết dụ, hay màu sim thật đẹp, hòa lẫn vào với màu sắc của mùa Thu. Hoa Cẩm tú cầu đã chuyển tiếp màu sắc của mình theo với sự mầu nhiệm của thiên nhiên. Chỉ với đặc tính này của hoa Cẩm tú cầu, tôi nhận thấy hoa rất là nhạy cảm vì có cảm nhận được sự thay đổi xung quanh mình hoa mới chuyển tiếp đổi màu sắc của mình, sao lại gán cho hoa ý tưởng là vô cảm và lạnh lùng!​

[​IMG] ​


Kỹ thuật trồng hoa cẩm tú cầu

Có thể trồng bằng hạt hoặc bằng nhánh: giâm cành vào mùa Xuân. Cắt đoạn nhánh dài 30 – 40cm (có 3 đốt lá), có vỏ ngả màu gổ, mang nhiều búp to ở nách lá, cắt bỏ cặp búp, lá ở phía dưới, ngâm trong nước vài giờ, cắm vào đất, buộc cố định cho không bị lay gốc, để chỗ có nắng lốm đốm/ nhận nắng sáng (không để chỗ thiếu nắng), giữ cho đất đủ ẩm. Có thể cắm cành cắt trong ly nước chờ khi có rể thì đem trồng ra đất. Có thể cắm cành vào một chậu nhỏ, tưới ẩm cho vào bao nilong buộc kín, để chỗ có nắng gián tiếp.​

Hướng dẫn chăm sóc hoa cẩm tú cầu

Tưới nước: tưới thường xuyên, thấy cây bị héo lá là tưới liền để không làm giảm khả năng ra hoa. Cần tưới nhiều nước vào mùa khô. Phải dự đoán tưới bao nhiêu là đủ để nước không còn đọng trên bề mặt của đất.

Tỉa cành: trong mùa Đông, trể nhất là đầu Xuân (tỉa muộn thì năm đó không có hoa). Nếu không biết chắc thời điểm thích hợp để tỉa cành thì cứ giử yên chờ hết mùa hoa thì cắt bỏ hoa đã tàn (nếu cành cao thì cắt tỉa ở đốt lá thứ 6 đếm từ hoa xuống gốc/ cắt tỉa bớt tuỳ chiều cao của cây- cắt tỉa quá nhiều sẽ giảm hoa vào mùa sau).Chừa lại những cành mùa trước không có hoa (để được hoa vào mùa mới) (tháng 3,4,5 là mùa thu ở Úc, tỉa cành vào tháng 3-4).​

[​IMG] ​

Bón phân: 1 hoặc 2 lần trong năm vào cuối đông, đầu xuân, lượng bón thay đổi theo kích thước của cây. Không lạm dụng phân bón… gây hại cho cây, không rải phân sát gốc, phải tưới nước sau khi rải phân. Khi cây mới trồng: 6 tuần sau khi trồng mới bón phân (dùng cẩn thận theo hướng dẫn sử dụng) sau đó bón phân tan chậm (slow -release) với thành phần 10-10-10. Vùng khí hậu ấm bón phân vào tháng 5 tháng 6, nơi lạnh thì tháng 6 tháng 7.

Thay chậu: khi hết mùa hoa, khi cây ngủ -cuối mùa thu hoặc mùa đông (vùng có đất đóng băng thì đầu mùa Xuân lúc đất bắt đầu trồng trọt được).

Quy trình chăm sóc cây – cây ngủ mùa đông: tưới thật ẩm –> để đất khô –> ngưng tưới cho đến đầu mùa xuân mới tưới trở lại.​

Phương pháp đổi màu cho hoa

Cẩm tú cầu là loài cây đặc biệt, có thể sống trên đất chua, trung tính hoặc có tính vôi. Không những thế, mùa sắc của hoa có thể thay đổi tuỳ theo độ pH trong đất.

Đất có tính axit

Đất chua (độ pH =< 5) hoa màu xanh .

• Để tăng acid bón aluminum sulfate (nhôm sulfate) mỗi tháng một lần vào tháng 3,4,8,9,10 theo chỉ dẫn của nhà sản xuất…thì hoa màu hoa cà, màu hồng sẽ biến thành màu xanh.(tuỳ nồng độ nhôm mà sắc xanh cũng đậm nhạt khác nhau)

[​IMG] ​

• Kinh nghiệm nhà vườn: Tưới dấm cho đất hoặc tưới cây bằng nước mưa. Cũng có thể cắm đinh vòng quanh gốc.

• Phân bón: dùng phân bón có phosphate thấp.​

Đất có tính kiềm

Đất có tính vôi (7.5=< độ pH <10) hoa có màu hoa cà, hồng hoặc đỏ

• Vào mùa xuân tưới thêm calcium carbonate /vôi thì hoa màu xanh sẽ trở nên hồng. Tro trấu cũng có tác dụng tăng tính kiềm của đất (trong tro trấu có chứa Kali)

• Phân bón: Bón phân có chỉ số phosphate cao hoặc thêm lime/vôi bột làm tăng độ pH của đất hoa sẽ có màu đỏ.​

Đất trung tính

Có độ pH =7 hoa có màu trắng sữa.

Lưu ý

• Hoa có màu trắng, thì có làm biến đổi độ pH của đất hoa vẫn không đổi màu (vẫn giữ màu trắng)

[​IMG] ​

• Ở vùng khí hậu nóng rất khó để biến cẩm tú cầu thành đỏ đậm.

• Thay đổi màu sắc có tác dụng cho 1 mùa bông, mùa kế tiếp sẽ có thể không giữ được sắc màu của mùa cũ.

• Trồng trong chậu sẽ dể kiểm soát độ pH.

• Không bón phân sau tháng 8 – mùa cây ngủ.

• Thị trường hiện nay có bán vài cây Hydrangeas ít có khả năng chuyển màu.

• Cần giữ ẩm cho gốc bằng cỏ khô, vỏ thông (pine tree needles).

Tác dụng của hoa mai trắng




Mai là một loài thực vật có hoa (vàng, trắng) thuộc chi Mai (Ochna), họ Mai (Ochnaceae). Loài hoa này được trưng bày phổ biến ở miền Nam Việt Nam vào dịp Tết Nguyên Đán.

Cây hoa mai trắng (bạch mai hoa) còn gọi cây mơ, lạp mai, bạch mai, lạp mộc, hương mai, hoàng lạp, tuyết lý hoa... có tên khoa học là Prunus armeniaca L.

[​IMG] ​

Theo y học hiện đại, hoa mai trắng chứa nhiều tinh dầu như: borneol, linalool, benzyl alcohol, cineole, farnesol, terpineol, indol... và một số chất khác như meratin, calycanthine, caroten...Hoa mai trắng có tác dụng thúc đẩy bài tiết dịch mật, ức chế một số loại vi khuẩn như coli, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn thương hàn, phẩy khuẩn tả, trực khuẩn lao...

Theo Đông y, hoa mai trắng vị ngọt hơi đắng, tính ấm, không độc, có công dụng giải thử sinh tân, khai vị tán uất, hóa đàm, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như sốt cao phiền khát, tức ngực, ho, hầu họng sưng đau, bỏng, lao hạch, chán ăn, chóng mặt, viêm đường hô hấp, giúp long đờm.

Thường người ta phơi khô hoa mai, hãm với nước nóng, uống thay trà để giữ ấm đường hô hấp trong mùa đông, giảm ho, trừ ho do phế nhiệt, ho dai dẳng lâu ngày. Sau đây là một số tác dụng của hoa mai trắng:

Chữa ho dai dẳng

[​IMG] ​

Hoa mai trắng 9g hãm uống thay trà trong ngày. Hoa mai trắng 10g, khoản đông hoa 10g, gạo tẻ 60g, tất cả đem ninh thành cháo, chế thêm một chút mật ong, chia ăn vài lần trong ngày.

Chữa chướng bụng, đầy hơi

Hoa mai trắng 10g, mộc hương 10g, hương phụ 15g, sắc uống.

Chữa tăng huyết áp, cơn đau thắt ngực

Hoa mai trắng 3g, thảo quyết minh 10g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì uống.

Chữa đau bụng do lạnh

Hoa mai trắng và chu sa liên lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, uống mỗi lần 3 - 6g với rượu.

Chữa viêm họng mạn tính

[​IMG] ​

Hoa mai trắng 6g, hoa dành dành 5g, trà 20g. Ba thứ trộn lẫn chia làm 2 lần hãm với nước sôi uống thay trà, mỗi ngày 1 thang.

Chữa nấc

Hoa mai trắng 5g, tai hồng 5 cái, gừng tươi 3 lát, gạo tẻ 100g. Đem gừng tươi và thị đế sắc kỹ lấy nước, bỏ bã rồi cho gạo vào nấu thành cháo, khi chín thì cho hoa mai trắng vào, đun sôi vài dạo là được, chia ăn vài lần trong ngày.

Chữa chán ăn do thử nhiệt

Hoa mai trắng 10g, lá sen 50g, hãm với nước sôi uống nhiều lần trong ngày.

Chữa đau khớp do phong thấp

Hoa mai trắng 9g, thạch nam đằng 9g, thố nhĩ phong 9g, đam ngâm với 200ml rượu, mỗi lần uống 30 - 50ml.

[​IMG] ​

Chữa viêm da lở loét

Hoa mai trắng 6g đem ngâm với dầu lạc hoặc dầu vừng, sau 2 tuần thì dùng được, bôi vào tổn thương mỗi ngày 2 lần.

Chữa viêm loét môi và niêm mạc miệng

Hoa mai trắng tươi lượng vừa đủ đem giã nát với đường trắng rồi vắt lấy nước bôi vào tổn thương.

Chữa bỏng nhẹ

Hoa mai trắng lượng vừa đủ ngâm với dầu trà rồi bôi vào vùng bị bỏng.

Chữa nôn, mửa

Hoa mai trắng 5g, nước cốt gừng tươi 5ml. Đem hoa mai hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút là dùng được, chắt ra hòa thêm nước gừng tươi rồi uống.

[​IMG] ​

Chữa viêm họng, viêm amydal cấp tính

Hoa mai trắng 9g hãm với nước sôi trong bình kín, uống thay trà trong ngày; Hoa mai trắng 6g, huyền sâm 9g, bản lam căn 9g, sắc uống; Hoa mai trắng 15g, kim ngân hoa 15g, thạch cao 15g, huyền sâm 9g, sắc uống.

Chữa mất nước nhiều do thử nhiệt gây phiền khát, tức ngực

Hoa mai trắng 10g, lá sâm 10g, cam thảo 10g, mạch môn 15g, hoắc hương 6g, sắc uống.

Chữa tức ngực, khó thở

Hoa mai trắng 10g, qua lâu 15g, đan sâm 10g, sắc uống trong ngày.

Tác dụng của hoa quỳnh


Hoa Quỳnh tên khoa học: Epiphyllum Oxypetalum (DC) Haw, thuộc họ xương rồng, có nguồn gốc từ Trung Mỹ. Hoa Quỳnh, một loại hoa đẹp, hoa chỉ nở vào ban đêm khi được chiếu sáng đầy đủ. Thời gian mục đích để xem hoa quỳnh nở khoảng 20h – 21h.

Các loài quỳnh thường được trồng để làm cảnh và hoa nở về đêm nên được mệnh danh là nữ hoàng của bóng đêm. Thân và lá một số loài quỳnh cũng được thêm vào trong một số dạng của loại đồ uống gây ảo giác ở khu vực rừng mưa Amazon là ayahuasca.​

[​IMG] ​

Cây Quỳnh, thân nhỏ, hình trụ, loại cây hoa cuống, có vỏ bọc màu nâu. Cành phân nhánh nhiều, có dạng dẹp màu lục non như lá, có một đường sống rõ mỏng dẫn về phía mép, mép lượn sóng, khía trơn. Hoa Quỳnh to màu trắng ngà, mọc đơn độc, cong lên ở kẽ những vết khác của thân cây, là bắc nhiều hình vảy. Mùa hoa có vào tháng 3-6.

Cây Quỳnh được trồng vùng đất nhiệt đới, ở nước ta quỳnh là cây có từ lâu đời ở hầu khắp nơi. Hoa Quỳnh được nhân dân trồng làm cây cảnh, vừa làm thuốc chữa bệnh. Với cây Quỳnh được xem như là một cây quý, hiếm, Quỳnh chưa được trồng đại trà… Loại cây ưa ánh sáng, chịu khô ẩm tốt, do đó phần thân và lá mọng nước. Quỳnh muốn tốt phải cho cây hướng về phía tây nam.Đây cũng là tính đặc trưng của quỳnh. Hoa Quỳnh được xem là thuốc đặc trị các bệnh về hô hấp, các bệnh lý về phổi.

Quỳnh còn có khả năng tái sinh dinh dưỡng rất tốt. Vì mỗi bộ phận của cây như một lần lá hay thân, cắt lá già làm đôi, còn nguyên tươi cắm xuống đất sau thời gian 15-20 ngày đã thấy có nảy sinh mầm.

Hoa Quỳnh có thể dùng chữa bệnh cả hoa và thân hoa thu hái khi nở còn tươi, cũng có thể phơi khô, có nơi ngâm rượu gạo.

Hoa Quỳnh có vị ngọt, tính bình, rất tốt trong tiêu viêm (sưng đỏ đau), trong cầm máu. Thân cây Quỳnh có một vị chua chua mặn mặn, tính mát. Toàn cây quỳnh có tác dụng thanh phế, loãng đờm (giống như tác dụng của Anphatrymotrysin “CHOA”).​

[​IMG] ​

Để chiêm ngưỡng trọn vẹn hoa Quỳnh sau nở vẫn giữ nguyên hoa nhiều gia đình ở Thị trấn Phú Phong (Tây Sơn) cắt hoa Quỳnh cho vào bình thủy tinh trắng trong, cho rượu gạo ngâm. Khi có đau bụng do ăn uống, hoặc khi vô ý té ngã có chỗ viêm, tấy, bầm máu có lúc do viêm họng, rát họng… ngậm hoặc uống 2ml rượu hoa Quỳnh. Với hoa Quỳnh có tác dụng như một loại thuốc vitamin K…. sẽ cầm máu vết thương, điều trị ho ra máu, bệnh lao phổi (xơ nhiễm phổi….) tử cung ra máu. Kinh nghiệm trong dân gian còn dùng hoa Quỳnh khô chưng cách thủy lấy nước uống để chữa đau tim tuổi già.

Liều lượng 3 - 5 hoa dạng thuốc sắc.

Dùng ngoài da chỗ xây xước, lấy thân cây giã nhỏ đắp lên chỗ đau, khi có mụn đinh viêm tấy đỏ, đau (nhọt), ngã đau có vết bầm tím (ứ máu cục bộ trên da).

Tác dụng quý, tốt của hoa Quỳnh như vậy nhưng thực tế để tìm có 5- 10 hoa Quỳnh vô cùng khó. Khi đã có hoa Quỳnh, chúng ta nên phơi khô hoặc ngâm rượu. Đó là cách thu, hái hoa Quỳnh, bảo quản tốt nhất, trong chữa bệnh.

Theo “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” thì bộ phận dùng của cây quỳnh là hoa và thân. Hoa thu hái khi nở, đem phơi khô hoặc dùng tươi. Thân thu hái quanh năm, dùng tươi. Về tính năng: hoa có vị ngọt, tính bình, có tác dụng tiêu viêm, cầm máu; thân có vị chua và mặn, tính mát, có tác dụng tiêu viêm. Toàn cây có tác dụng thanh phế, trừ ho, hóa đàm.​

[​IMG] ​

Hoa quỳnh chỉ nở về đêm. Có người cả đời không hề thấy quỳnh ra hoa. Quỳnh không chỉ để ngắm mà còn dùng làm dược liệu và cả để... ăn.

Quỳnh chỉ cần một, hai hoa là có thể chế biến được món, đơn giản nhất là nấu canh thịt nạc hay tôm tươi. Hoa quỳnh tối nở sáng tàn nên nấu ngay cho buổi trưa hôm sau, độ tươi, ngon gần như nguyên vẹn. Rửa sạch bụi phấn hoa, bỏ cuống và nhuỵ, xắt ra nấu với thịt nạc được một tô canh nhỏ. Có người “tiếc của trời cho” nấu nguyên phần cuống. Tô canh hơi nhơn nhớt nhưng lại ngon ngọt, dễ ăn.

Quỳnh trồng trong chậu chỉ ra hai, ba hoa/lần, khi trồng ngoài đất, cây phát triển tươi tốt, vào mùa ra hoa đến cả chục cái. Lúc này tha hồ xào thịt bò, làm gỏi. Cánh hoa quỳnh mảnh nên chín nhanh, chỉ cần đảo sơ qua với thịt bò là dùng được.

Nếu làm gỏi thì nguyên liệu trộn thông thường như tôm, thịt nạc, cà rốt, hành tây... nhưng để gỏi ngon, thì còn phụ thuộc vào tài nêm nếm gia vị chanh, đường, mắm, ớt... Vì ít hoa nên đúng nghĩa là ăn lấy hương lấy hoa!​

[​IMG] ​

Theo các tài liệu về dược thảo của dược sĩ Phan Đức Thảo nghiên cứu dịch nhầy chiết từ hoa quỳnh tươi và kinh nghiệm dân gian, hoa quỳnh có tác dụng chữa trị các bệnh về đường tiết niệu, sỏi thận, ho, viêm họng, hen suyễn, đái tháo đường...​

Hoa quỳnh vừa nở xong, còn tươi thái nhỏ chưng với đường phèn hoặc mật ong hoặc với trứng gà. Ăn nóng, có tác dụng chữa các chứng ho, hen suyễn. Canh hoa quỳnh nấu với thịt nạc ăn có tác dụng bổ phổi.

Hoa quỳnh ngâm rượu chữa bệnh đau bụng. Hoa quỳnh phơi khô hoặc để tươi, tẩm mật, sao vàng, hãm với nước sôi như pha trà có tác dụng chữa sỏi thận, niệu quản, bàng quang... Dân gian còn cho rằng thân cây quỳnh hay chất nhớt lấy từ cuống hoa có tác dụng chữa bệnh đái tháo đường…

Quỳnh dễ trồng trong sân, vườn nhà hay trong bồn. Loài cây họ xương rồng này cho hoa tuyệt đẹp. Chỉ cần một chiếc lá quỳnh già, thậm chí nửa lá cũng được, vùi xuống đất mềm trong chậu hoặc ngoài đất, vài tháng sau lá tua rễ, đâm cành, nảy lộc thành một bụi quỳnh tươi tốt.​

[​IMG] ​

Dân gian cho rằng, hoa quỳnh nở là điềm may mắn và hạnh phúc. Điều đó đúng, sai chưa thiết nghĩ, nhưng quả rằng hương thơm lẫn sắc đẹp của hoa thật lạ lùng. Trông từng cánh hoa trắng muốt nhấc ra từ từ cho đến khi cả đoá hoa mãn khai. Dù sao, được một lần thưởng lãm hoa quỳnh nở trong đêm và thưởng thức các món ăn từ hoa quỳnh đã thích thú chừng nào.​

Hoa quỳnh xào trứng trị viêm phổi

Viêm phổi xảy ra ở tất cả các lứa tuổi, nếu không điều trị triệt để có thể gây biến chứng áp xe phổi, xẹp thùy phổi, tràn dịch màng phổi... Hiện nay, y khoa có rất nhiều phương pháp trị liệu như uống thuốc Đông Tây y, châm cứu, cấy chỉ... Xin giới thiệu liệu pháp ẩm thực trị liệu để độc giả tham khảo.

Nguyên liệu: Từ 2 - 3 hoa quỳnh mới nở, trứng gà ta 1 - 2 quả, gia vị đủ dùng.

Chế biến: Hoa quỳnh đem rửa sạch, thái nhỏ đem xào qua sau đó đập trứng gà vào xào tiếp tới chín, nêm gia vị đủ dùng, bắc ra ăn nóng. Có thể ăn ngày 2 lần, trẻ em ngày 1 - 2 hoa/lần, người lớn 4 - 5 hoa/ngày, có ăn liên tục tới khi khỏi. Bài thuốc có tác dụng bổ khí huyết, thanh nhiệt giáng hỏa, kháng viêm, trừ mủ, long đờm thích dụng cho người viêm phổi, viêm phế quản, lao phổi, ho kéo dài, hen phế quản, viêm họng... Ngoài ra, còn dùng để trị sỏi thận, sỏi bàng quang, viêm thận...​

[​IMG] ​

Theo Đông y, hoa quỳnh có vị ngọt, tính bình, có tác thanh nhiệt, lương huyết, giải độc, kháng viêm, tiêu thũng, giảm ho, trừ đờm dùng trị ho, viêm họng, lao phổi, ho ra máu, hen suyễn, cao huyết áp, sỏi thận, sỏi bàng quang... Trứng gà còn được gọi là kê hoàng có vị ngọt, tính bình, vào kinh tỳ, thận có tác dụng tư âm, dưỡng tâm thận, an thần, nhuận khí và sinh tân dưỡng huyết mạnh chức năng hô hấp.

Ngoài cách chế biến trên có thể dùng hoa quỳnh 15 - 30g thái nhỏ xào hoặc nấu canh với thịt nạc lợn ăn hằng ngày chữa viêm phế quản, lao hạch, lao phổi. Hoặc đem hấp với mật ong hay đương phèn ăn hằng ngày. Theo kinh nghiệm của nhân dân Ấn Độ - Trung Quốc, toàn cây quỳnh được dùng trị đòn, ngã tổn thương, đau tâm vỵ, thổ huyết, phổi kết hạch; Đọt non của hoa quỳnh được dùng để thay thế một phần digitalis làm thuốc trợ tim.​

Hoa quỳnh chữa ho

Nếu sốt ruột khi con cái hay bản thân bị ho, bạn hãy nhớ đến hoa quỳnh. Loài hoa này có thể chữa được nhiều chứng ho khác nhau.​

[​IMG] ​

Ho do lao phổi, lao hạch, viêm phế quản lâu ngày: Lấy 15 - 30 gr hoa quỳnh, nấu với thịt nạc lợn ăn rất tốt.

Lao phổi, ho thường xuyên, suy khí ở phổi: Lấy 3 - 5 bông hoa quỳnh, 50 gr đường phèn, nấu lấy nước uống trong ngày.

Hen, ho có đờm, ho lao: Lấy hoa quỳnh mới nở thái nhỏ, hấp với mật ong hoặc chưng với trứng gà ăn nóng trong ngày. Trẻ em dùng 1 - 2 hoa, người lớn dùng 2 - 3 hoa.

Ngoài ra, hoa quỳnh cũng được dùng làm thuốc trong các trường hợp sau:

Xuất huyết tử cung, kinh nguyệt ra nhiều không dứt: Lấy 2 - 3 bông hoa quỳnh ninh với 400 gr thịt lợn nạc để ăn.

Vai, lưng, đau nhức, tức ngực khó thở, người mệt: Lấy 2 - 3 bông hoa quỳnh ninh với 400 gr phổi lợn ăn nóng.

Đau bụng, ứ máu làm bầm tím lâu tan: Lấy hoa quỳnh mới nở, ngâm vào rượu để 10 - 15 ngày là dùng được. Ngày uống hai lần, mỗi lần 1 - 2 ml.

Suy nhược cơ thể, mệt mỏi kéo dài, buồn phiền u uất: Lấy 30 gr hoa quỳnh, 30 gr hoa kim tước, 30 gr hà thủ ô, 50 gr đỗ trọng sao. Nấu kỹ lấy nước uống.

Sỏi bàng quang, sỏi niệu quản, sỏi thận: Lấy 30 gr hoa quỳnh, 20 gr rau diếp cá, 20 gr kim tiền thảo, 10 gr rễ cỏ tranh. Tất cả thái nhỏ, sắc kỹ, lấy nước đặc chia làm ba lần, uống trong ngày rất hiệu nghiệm. Nên uống liên tục 2 - 3 tuần cho một đợt điều trị.​

[​IMG] ​

Làm bổ phổi: Lấy 30 gr hoa quỳnh, 30 gr hoa bách hợp, nấu nước uống.​

Hoa quỳnh chữa sỏi thận

Ngoài việc chữa trị hiệu quả chứng sỏi ở đường tiết niệu, loài hoa đẹp này còn giúp điều trị ho, viêm họng, vết bầm tím...

Cách chữa sỏi thận, niệu quản, bàng quang theo kinh nghiệm dân gian: Hoa quỳnh thu hái lúc mới nở, để tươi hoặc phơi, thái nhỏ, tẩm mật, sao vàng. Hãm với nước sôi như pha trà hoặc sắc với 200 ml nước còn 50 ml, uống 1 lần trong ngày. Liều dùng hằng ngày: 20-30 g, dùng liền trong vài tuần.

Có thể phối hợp với các vị thuốc khác theo công thức sau: Hoa quỳnh 30 g, kim tiền thảo 20 g, diếp cá 20 g, rễ cỏ tranh 10 g, thái nhỏ, sắc lấy nước đặc chia 3 lần uống trong ngày.​

[​IMG] ​

Từ năm 1966 đến 1974, dược sĩ Phan Đức Bình đã nghiên cứu và khẳng định, dịch nhầy chiết từ hoa quỳnh tươi không những làm tan sỏi mà còn trị được chứng đái tháo đường. Cách dùng và liều lượng như trên.​

Các công dụng khác:

Thuốc bổ mát, chữa ho có đờm, ho do lao và hen: Hoa quỳnh mới nở để tươi, thái nhỏ, hấp với mật ong hoặc nấu với trứng gà ăn nóng trong ngày. Người lớn 2 - 3 hoa, trẻ em 1- 2 hoa.

Chữa ho, viêm họng: Hoa quỳnh 30 g, lá xương sông 10 g rửa sạch, thái nhỏ, cho vào bát sạch cùng với mật ong 10 ml, đun cách thủy trong 15-30 phút. Để nguội, trộn đều, uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa đau bụng, vết bầm tím sưng đau: Hoa quỳnh mới nở, cắt ngâm ngay vào rượu cho ngập trong 10-15 ngày, càng lâu càng tốt. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1-2 ml.​

[​IMG] ​

Theo tài liệu nước ngoài, có thể lấy hoa quỳnh 15-30 g thái nhỏ, nấu với thịt lợn nạc làm món ăn - vị thuốc chữa viêm phế quản, lao hạch, lao phổi.​


Chia sẽ thêm điều bí mật của cây quỳnh

Cây Quỳnh có tên khoa học là Epiphyllum oxypetalum thuộc họ Xương rồng (Cactaceae), cây có nguồn gốc từ Mêxico ( hoặc Monduras, Guatemala và Cuba), là một trong những loài làm cảnh đẹp nhất của họ Xương rồng. Cây Quỳnh mọc vươn dài hay sống tựa. Hoa màu trắng gồm nhiều lá bắc hình vẩy ở gốc, nở về đêm. Hãy xem loài hoa có hương thơm, nở về đêm nhưng chóng tàn này có những bí mật gì nhé.​

[​IMG] ​

1.Tại sao cây Quỳnh chỉ nở một lần vào ban đêm?

Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Lý, Viện Di truyền Nông nghiệp cho biết: Hoa cây Quỳnh nở vào cuối hè và đầu thu, thời gian thường vào khoảng 8 – 9h tối. Khi hoa nở, cánh hoa trắng như tuyết và có mùi thơm tao nhã, hương thơm lan tỏa rộng.

Tuy nhiên, hoa chỉ tồn tại 3 – 4 tiếng là héo ngay. Điều này do hoa cây Quỳnh có nguồn gốc từ Mexico, là loài hoa chịu khô hạn tốt nhưng lá của nó đã bị thoái hóa. Thân cây dẹt, vỏ cây tiến hành quá trình quang hợp và chế tạo chất dinh dưỡng thay cho lá cây. Ở lớp vỏ ngoài của thân cây có một lớp sáp giúp giảm bớt sự bốc hơi nước.

Hoa quỳnh nở vào buổi tối là để tránh ánh nắng gay gắt của mặt trời. Thời gian tồn tại ngắn ngủi do cần giảm sự bốc hơi nước. Vì vậy, chúng ta thường thấy hoa nở rồi lại tàn ngay, đó cũng là đặc tính thích nghi với điều kiện sống của chúng.​

[​IMG] ​

2. Vì sao cây Quỳnh thường hay trồng cạnh cây cành Giao

Cây Quỳnh cành Giao được trồng cạnh nhau là lời chúc tốt đẹp cho đôi lứa yêu nhau

Ngày xưa trên trời có một đôi tiên yêu nhau. Nhưng phép trời thì không cho yêu nhau nên họ trốn xuống trần gian. Ngọc Hoàng sai người đi tìm và bắt được họ. Để trừng phạt họ, Ngọc Hoàng bắt họ biến thành 2 loại cây. Cô tiên nữ tên Quỳnh nên cây đó đặt tên là cây Quỳnh. Còn anh chàng tiên kia tên Giao.

Người trần gian thấy thương cho tình yêu của họ nên khi trồng cây Quỳnh thường đặt cạnh cây cành giao. Ý nói dù trong hoàn cảnh nào cũng không chia cắt được họ. Nếu trồng cây Quỳnh mà không có cây cành giao thì coi như… thiếu!​

[​IMG] ​

Cả hai cây này đều thuộc họ xương rồng. Cây quỳnh thì thân cũng là lá, nên không có cành. Cây giao không có lá, chỉ có cành (thực ra lá của nó giống như cành vậy), nên nếu trồng xen với nhau tạo nên một sự bổ sung hoàn hảo, đủ cành đủ lá…​

3. Hoa cây Quỳnh mang vị thuốc

Theo Đông y, hoa cây Quỳnh có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, giải độc, kháng viêm, tiêu thũng, giảm ho, trừ đờm dùng trị ho, viêm họng, lao phổi, ho ra máu, hen suyễn, cao huyết áp, sỏi thận, sỏi bàng quang.Có thể dùng hoa cây Quỳnh 15 – 30g thái nhỏ xào hoặc nấu canh với thịt nạc lợn ăn hằng ngày chữa viêm phế quản, lao hạch, lao phổi. Hoặc đem hấp với mật ong hay đương phèn ăn hằng ngày. Theo kinh nghiệm của nhân dân Ấn Độ – Trung Quốc, toàn cây quỳnh được dùng trị đòn, ngã tổn thương, đau tâm vỵ, thổ huyết, phổi kết hạch; Đọt non của cây Quỳnh được dùng để thay thế một phần digitalis làm thuốc trợ tim.​

Đăng ký: Bài đăng(Atom)