Tác dụng của hoa quỳnh


Hoa Quỳnh tên khoa học: Epiphyllum Oxypetalum (DC) Haw, thuộc họ xương rồng, có nguồn gốc từ Trung Mỹ. Hoa Quỳnh, một loại hoa đẹp, hoa chỉ nở vào ban đêm khi được chiếu sáng đầy đủ. Thời gian mục đích để xem hoa quỳnh nở khoảng 20h – 21h.

Các loài quỳnh thường được trồng để làm cảnh và hoa nở về đêm nên được mệnh danh là nữ hoàng của bóng đêm. Thân và lá một số loài quỳnh cũng được thêm vào trong một số dạng của loại đồ uống gây ảo giác ở khu vực rừng mưa Amazon là ayahuasca.​

[​IMG] ​

Cây Quỳnh, thân nhỏ, hình trụ, loại cây hoa cuống, có vỏ bọc màu nâu. Cành phân nhánh nhiều, có dạng dẹp màu lục non như lá, có một đường sống rõ mỏng dẫn về phía mép, mép lượn sóng, khía trơn. Hoa Quỳnh to màu trắng ngà, mọc đơn độc, cong lên ở kẽ những vết khác của thân cây, là bắc nhiều hình vảy. Mùa hoa có vào tháng 3-6.

Cây Quỳnh được trồng vùng đất nhiệt đới, ở nước ta quỳnh là cây có từ lâu đời ở hầu khắp nơi. Hoa Quỳnh được nhân dân trồng làm cây cảnh, vừa làm thuốc chữa bệnh. Với cây Quỳnh được xem như là một cây quý, hiếm, Quỳnh chưa được trồng đại trà… Loại cây ưa ánh sáng, chịu khô ẩm tốt, do đó phần thân và lá mọng nước. Quỳnh muốn tốt phải cho cây hướng về phía tây nam.Đây cũng là tính đặc trưng của quỳnh. Hoa Quỳnh được xem là thuốc đặc trị các bệnh về hô hấp, các bệnh lý về phổi.

Quỳnh còn có khả năng tái sinh dinh dưỡng rất tốt. Vì mỗi bộ phận của cây như một lần lá hay thân, cắt lá già làm đôi, còn nguyên tươi cắm xuống đất sau thời gian 15-20 ngày đã thấy có nảy sinh mầm.

Hoa Quỳnh có thể dùng chữa bệnh cả hoa và thân hoa thu hái khi nở còn tươi, cũng có thể phơi khô, có nơi ngâm rượu gạo.

Hoa Quỳnh có vị ngọt, tính bình, rất tốt trong tiêu viêm (sưng đỏ đau), trong cầm máu. Thân cây Quỳnh có một vị chua chua mặn mặn, tính mát. Toàn cây quỳnh có tác dụng thanh phế, loãng đờm (giống như tác dụng của Anphatrymotrysin “CHOA”).​

[​IMG] ​

Để chiêm ngưỡng trọn vẹn hoa Quỳnh sau nở vẫn giữ nguyên hoa nhiều gia đình ở Thị trấn Phú Phong (Tây Sơn) cắt hoa Quỳnh cho vào bình thủy tinh trắng trong, cho rượu gạo ngâm. Khi có đau bụng do ăn uống, hoặc khi vô ý té ngã có chỗ viêm, tấy, bầm máu có lúc do viêm họng, rát họng… ngậm hoặc uống 2ml rượu hoa Quỳnh. Với hoa Quỳnh có tác dụng như một loại thuốc vitamin K…. sẽ cầm máu vết thương, điều trị ho ra máu, bệnh lao phổi (xơ nhiễm phổi….) tử cung ra máu. Kinh nghiệm trong dân gian còn dùng hoa Quỳnh khô chưng cách thủy lấy nước uống để chữa đau tim tuổi già.

Liều lượng 3 - 5 hoa dạng thuốc sắc.

Dùng ngoài da chỗ xây xước, lấy thân cây giã nhỏ đắp lên chỗ đau, khi có mụn đinh viêm tấy đỏ, đau (nhọt), ngã đau có vết bầm tím (ứ máu cục bộ trên da).

Tác dụng quý, tốt của hoa Quỳnh như vậy nhưng thực tế để tìm có 5- 10 hoa Quỳnh vô cùng khó. Khi đã có hoa Quỳnh, chúng ta nên phơi khô hoặc ngâm rượu. Đó là cách thu, hái hoa Quỳnh, bảo quản tốt nhất, trong chữa bệnh.

Theo “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” thì bộ phận dùng của cây quỳnh là hoa và thân. Hoa thu hái khi nở, đem phơi khô hoặc dùng tươi. Thân thu hái quanh năm, dùng tươi. Về tính năng: hoa có vị ngọt, tính bình, có tác dụng tiêu viêm, cầm máu; thân có vị chua và mặn, tính mát, có tác dụng tiêu viêm. Toàn cây có tác dụng thanh phế, trừ ho, hóa đàm.​

[​IMG] ​

Hoa quỳnh chỉ nở về đêm. Có người cả đời không hề thấy quỳnh ra hoa. Quỳnh không chỉ để ngắm mà còn dùng làm dược liệu và cả để... ăn.

Quỳnh chỉ cần một, hai hoa là có thể chế biến được món, đơn giản nhất là nấu canh thịt nạc hay tôm tươi. Hoa quỳnh tối nở sáng tàn nên nấu ngay cho buổi trưa hôm sau, độ tươi, ngon gần như nguyên vẹn. Rửa sạch bụi phấn hoa, bỏ cuống và nhuỵ, xắt ra nấu với thịt nạc được một tô canh nhỏ. Có người “tiếc của trời cho” nấu nguyên phần cuống. Tô canh hơi nhơn nhớt nhưng lại ngon ngọt, dễ ăn.

Quỳnh trồng trong chậu chỉ ra hai, ba hoa/lần, khi trồng ngoài đất, cây phát triển tươi tốt, vào mùa ra hoa đến cả chục cái. Lúc này tha hồ xào thịt bò, làm gỏi. Cánh hoa quỳnh mảnh nên chín nhanh, chỉ cần đảo sơ qua với thịt bò là dùng được.

Nếu làm gỏi thì nguyên liệu trộn thông thường như tôm, thịt nạc, cà rốt, hành tây... nhưng để gỏi ngon, thì còn phụ thuộc vào tài nêm nếm gia vị chanh, đường, mắm, ớt... Vì ít hoa nên đúng nghĩa là ăn lấy hương lấy hoa!​

[​IMG] ​

Theo các tài liệu về dược thảo của dược sĩ Phan Đức Thảo nghiên cứu dịch nhầy chiết từ hoa quỳnh tươi và kinh nghiệm dân gian, hoa quỳnh có tác dụng chữa trị các bệnh về đường tiết niệu, sỏi thận, ho, viêm họng, hen suyễn, đái tháo đường...​

Hoa quỳnh vừa nở xong, còn tươi thái nhỏ chưng với đường phèn hoặc mật ong hoặc với trứng gà. Ăn nóng, có tác dụng chữa các chứng ho, hen suyễn. Canh hoa quỳnh nấu với thịt nạc ăn có tác dụng bổ phổi.

Hoa quỳnh ngâm rượu chữa bệnh đau bụng. Hoa quỳnh phơi khô hoặc để tươi, tẩm mật, sao vàng, hãm với nước sôi như pha trà có tác dụng chữa sỏi thận, niệu quản, bàng quang... Dân gian còn cho rằng thân cây quỳnh hay chất nhớt lấy từ cuống hoa có tác dụng chữa bệnh đái tháo đường…

Quỳnh dễ trồng trong sân, vườn nhà hay trong bồn. Loài cây họ xương rồng này cho hoa tuyệt đẹp. Chỉ cần một chiếc lá quỳnh già, thậm chí nửa lá cũng được, vùi xuống đất mềm trong chậu hoặc ngoài đất, vài tháng sau lá tua rễ, đâm cành, nảy lộc thành một bụi quỳnh tươi tốt.​

[​IMG] ​

Dân gian cho rằng, hoa quỳnh nở là điềm may mắn và hạnh phúc. Điều đó đúng, sai chưa thiết nghĩ, nhưng quả rằng hương thơm lẫn sắc đẹp của hoa thật lạ lùng. Trông từng cánh hoa trắng muốt nhấc ra từ từ cho đến khi cả đoá hoa mãn khai. Dù sao, được một lần thưởng lãm hoa quỳnh nở trong đêm và thưởng thức các món ăn từ hoa quỳnh đã thích thú chừng nào.​

Hoa quỳnh xào trứng trị viêm phổi

Viêm phổi xảy ra ở tất cả các lứa tuổi, nếu không điều trị triệt để có thể gây biến chứng áp xe phổi, xẹp thùy phổi, tràn dịch màng phổi... Hiện nay, y khoa có rất nhiều phương pháp trị liệu như uống thuốc Đông Tây y, châm cứu, cấy chỉ... Xin giới thiệu liệu pháp ẩm thực trị liệu để độc giả tham khảo.

Nguyên liệu: Từ 2 - 3 hoa quỳnh mới nở, trứng gà ta 1 - 2 quả, gia vị đủ dùng.

Chế biến: Hoa quỳnh đem rửa sạch, thái nhỏ đem xào qua sau đó đập trứng gà vào xào tiếp tới chín, nêm gia vị đủ dùng, bắc ra ăn nóng. Có thể ăn ngày 2 lần, trẻ em ngày 1 - 2 hoa/lần, người lớn 4 - 5 hoa/ngày, có ăn liên tục tới khi khỏi. Bài thuốc có tác dụng bổ khí huyết, thanh nhiệt giáng hỏa, kháng viêm, trừ mủ, long đờm thích dụng cho người viêm phổi, viêm phế quản, lao phổi, ho kéo dài, hen phế quản, viêm họng... Ngoài ra, còn dùng để trị sỏi thận, sỏi bàng quang, viêm thận...​

[​IMG] ​

Theo Đông y, hoa quỳnh có vị ngọt, tính bình, có tác thanh nhiệt, lương huyết, giải độc, kháng viêm, tiêu thũng, giảm ho, trừ đờm dùng trị ho, viêm họng, lao phổi, ho ra máu, hen suyễn, cao huyết áp, sỏi thận, sỏi bàng quang... Trứng gà còn được gọi là kê hoàng có vị ngọt, tính bình, vào kinh tỳ, thận có tác dụng tư âm, dưỡng tâm thận, an thần, nhuận khí và sinh tân dưỡng huyết mạnh chức năng hô hấp.

Ngoài cách chế biến trên có thể dùng hoa quỳnh 15 - 30g thái nhỏ xào hoặc nấu canh với thịt nạc lợn ăn hằng ngày chữa viêm phế quản, lao hạch, lao phổi. Hoặc đem hấp với mật ong hay đương phèn ăn hằng ngày. Theo kinh nghiệm của nhân dân Ấn Độ - Trung Quốc, toàn cây quỳnh được dùng trị đòn, ngã tổn thương, đau tâm vỵ, thổ huyết, phổi kết hạch; Đọt non của hoa quỳnh được dùng để thay thế một phần digitalis làm thuốc trợ tim.​

Hoa quỳnh chữa ho

Nếu sốt ruột khi con cái hay bản thân bị ho, bạn hãy nhớ đến hoa quỳnh. Loài hoa này có thể chữa được nhiều chứng ho khác nhau.​

[​IMG] ​

Ho do lao phổi, lao hạch, viêm phế quản lâu ngày: Lấy 15 - 30 gr hoa quỳnh, nấu với thịt nạc lợn ăn rất tốt.

Lao phổi, ho thường xuyên, suy khí ở phổi: Lấy 3 - 5 bông hoa quỳnh, 50 gr đường phèn, nấu lấy nước uống trong ngày.

Hen, ho có đờm, ho lao: Lấy hoa quỳnh mới nở thái nhỏ, hấp với mật ong hoặc chưng với trứng gà ăn nóng trong ngày. Trẻ em dùng 1 - 2 hoa, người lớn dùng 2 - 3 hoa.

Ngoài ra, hoa quỳnh cũng được dùng làm thuốc trong các trường hợp sau:

Xuất huyết tử cung, kinh nguyệt ra nhiều không dứt: Lấy 2 - 3 bông hoa quỳnh ninh với 400 gr thịt lợn nạc để ăn.

Vai, lưng, đau nhức, tức ngực khó thở, người mệt: Lấy 2 - 3 bông hoa quỳnh ninh với 400 gr phổi lợn ăn nóng.

Đau bụng, ứ máu làm bầm tím lâu tan: Lấy hoa quỳnh mới nở, ngâm vào rượu để 10 - 15 ngày là dùng được. Ngày uống hai lần, mỗi lần 1 - 2 ml.

Suy nhược cơ thể, mệt mỏi kéo dài, buồn phiền u uất: Lấy 30 gr hoa quỳnh, 30 gr hoa kim tước, 30 gr hà thủ ô, 50 gr đỗ trọng sao. Nấu kỹ lấy nước uống.

Sỏi bàng quang, sỏi niệu quản, sỏi thận: Lấy 30 gr hoa quỳnh, 20 gr rau diếp cá, 20 gr kim tiền thảo, 10 gr rễ cỏ tranh. Tất cả thái nhỏ, sắc kỹ, lấy nước đặc chia làm ba lần, uống trong ngày rất hiệu nghiệm. Nên uống liên tục 2 - 3 tuần cho một đợt điều trị.​

[​IMG] ​

Làm bổ phổi: Lấy 30 gr hoa quỳnh, 30 gr hoa bách hợp, nấu nước uống.​

Hoa quỳnh chữa sỏi thận

Ngoài việc chữa trị hiệu quả chứng sỏi ở đường tiết niệu, loài hoa đẹp này còn giúp điều trị ho, viêm họng, vết bầm tím...

Cách chữa sỏi thận, niệu quản, bàng quang theo kinh nghiệm dân gian: Hoa quỳnh thu hái lúc mới nở, để tươi hoặc phơi, thái nhỏ, tẩm mật, sao vàng. Hãm với nước sôi như pha trà hoặc sắc với 200 ml nước còn 50 ml, uống 1 lần trong ngày. Liều dùng hằng ngày: 20-30 g, dùng liền trong vài tuần.

Có thể phối hợp với các vị thuốc khác theo công thức sau: Hoa quỳnh 30 g, kim tiền thảo 20 g, diếp cá 20 g, rễ cỏ tranh 10 g, thái nhỏ, sắc lấy nước đặc chia 3 lần uống trong ngày.​

[​IMG] ​

Từ năm 1966 đến 1974, dược sĩ Phan Đức Bình đã nghiên cứu và khẳng định, dịch nhầy chiết từ hoa quỳnh tươi không những làm tan sỏi mà còn trị được chứng đái tháo đường. Cách dùng và liều lượng như trên.​

Các công dụng khác:

Thuốc bổ mát, chữa ho có đờm, ho do lao và hen: Hoa quỳnh mới nở để tươi, thái nhỏ, hấp với mật ong hoặc nấu với trứng gà ăn nóng trong ngày. Người lớn 2 - 3 hoa, trẻ em 1- 2 hoa.

Chữa ho, viêm họng: Hoa quỳnh 30 g, lá xương sông 10 g rửa sạch, thái nhỏ, cho vào bát sạch cùng với mật ong 10 ml, đun cách thủy trong 15-30 phút. Để nguội, trộn đều, uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa đau bụng, vết bầm tím sưng đau: Hoa quỳnh mới nở, cắt ngâm ngay vào rượu cho ngập trong 10-15 ngày, càng lâu càng tốt. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1-2 ml.​

[​IMG] ​

Theo tài liệu nước ngoài, có thể lấy hoa quỳnh 15-30 g thái nhỏ, nấu với thịt lợn nạc làm món ăn - vị thuốc chữa viêm phế quản, lao hạch, lao phổi.​


Chia sẽ thêm điều bí mật của cây quỳnh

Cây Quỳnh có tên khoa học là Epiphyllum oxypetalum thuộc họ Xương rồng (Cactaceae), cây có nguồn gốc từ Mêxico ( hoặc Monduras, Guatemala và Cuba), là một trong những loài làm cảnh đẹp nhất của họ Xương rồng. Cây Quỳnh mọc vươn dài hay sống tựa. Hoa màu trắng gồm nhiều lá bắc hình vẩy ở gốc, nở về đêm. Hãy xem loài hoa có hương thơm, nở về đêm nhưng chóng tàn này có những bí mật gì nhé.​

[​IMG] ​

1.Tại sao cây Quỳnh chỉ nở một lần vào ban đêm?

Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Lý, Viện Di truyền Nông nghiệp cho biết: Hoa cây Quỳnh nở vào cuối hè và đầu thu, thời gian thường vào khoảng 8 – 9h tối. Khi hoa nở, cánh hoa trắng như tuyết và có mùi thơm tao nhã, hương thơm lan tỏa rộng.

Tuy nhiên, hoa chỉ tồn tại 3 – 4 tiếng là héo ngay. Điều này do hoa cây Quỳnh có nguồn gốc từ Mexico, là loài hoa chịu khô hạn tốt nhưng lá của nó đã bị thoái hóa. Thân cây dẹt, vỏ cây tiến hành quá trình quang hợp và chế tạo chất dinh dưỡng thay cho lá cây. Ở lớp vỏ ngoài của thân cây có một lớp sáp giúp giảm bớt sự bốc hơi nước.

Hoa quỳnh nở vào buổi tối là để tránh ánh nắng gay gắt của mặt trời. Thời gian tồn tại ngắn ngủi do cần giảm sự bốc hơi nước. Vì vậy, chúng ta thường thấy hoa nở rồi lại tàn ngay, đó cũng là đặc tính thích nghi với điều kiện sống của chúng.​

[​IMG] ​

2. Vì sao cây Quỳnh thường hay trồng cạnh cây cành Giao

Cây Quỳnh cành Giao được trồng cạnh nhau là lời chúc tốt đẹp cho đôi lứa yêu nhau

Ngày xưa trên trời có một đôi tiên yêu nhau. Nhưng phép trời thì không cho yêu nhau nên họ trốn xuống trần gian. Ngọc Hoàng sai người đi tìm và bắt được họ. Để trừng phạt họ, Ngọc Hoàng bắt họ biến thành 2 loại cây. Cô tiên nữ tên Quỳnh nên cây đó đặt tên là cây Quỳnh. Còn anh chàng tiên kia tên Giao.

Người trần gian thấy thương cho tình yêu của họ nên khi trồng cây Quỳnh thường đặt cạnh cây cành giao. Ý nói dù trong hoàn cảnh nào cũng không chia cắt được họ. Nếu trồng cây Quỳnh mà không có cây cành giao thì coi như… thiếu!​

[​IMG] ​

Cả hai cây này đều thuộc họ xương rồng. Cây quỳnh thì thân cũng là lá, nên không có cành. Cây giao không có lá, chỉ có cành (thực ra lá của nó giống như cành vậy), nên nếu trồng xen với nhau tạo nên một sự bổ sung hoàn hảo, đủ cành đủ lá…​

3. Hoa cây Quỳnh mang vị thuốc

Theo Đông y, hoa cây Quỳnh có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, giải độc, kháng viêm, tiêu thũng, giảm ho, trừ đờm dùng trị ho, viêm họng, lao phổi, ho ra máu, hen suyễn, cao huyết áp, sỏi thận, sỏi bàng quang.Có thể dùng hoa cây Quỳnh 15 – 30g thái nhỏ xào hoặc nấu canh với thịt nạc lợn ăn hằng ngày chữa viêm phế quản, lao hạch, lao phổi. Hoặc đem hấp với mật ong hay đương phèn ăn hằng ngày. Theo kinh nghiệm của nhân dân Ấn Độ – Trung Quốc, toàn cây quỳnh được dùng trị đòn, ngã tổn thương, đau tâm vỵ, thổ huyết, phổi kết hạch; Đọt non của cây Quỳnh được dùng để thay thế một phần digitalis làm thuốc trợ tim.​

Tác dụng của hoa vạn thọ






Vạn thọ hay Cúc vạn thọ - Tagetes erecta L., thuộc họ Cúc - Asteraceae.

Hoa vạn thọ hay còn gọi là hoa cúc vạn thọ rất được ưa chuộng và được trồng phổ biến ở Việt Nam dùng để trang trí sân vườn, làm cây cảnh, phục vụ cúng, lễ và trưng bày trong dịp Tết Nguyên đán. Ngoài ra vạn thọ còn có tác dụng xua đuổi côn trùng có hại, dùng lá để chữa bệnh nấc cụt.

 ​

Mô tả: Cây thảo mọc đứng, cao 0,6-1m, phân nhánh thành bụi có cành nằm trải ra. Lá xẻ sâu hình lông chim, các thuỳ hẹp, dài, nhọn, khía răng cưa. Đầu hoa toả tròn, rộng 3-4cm hay hơn, mọc đơn độc hay tụ họp thành ngù; lá bắc của bao chung hàn liền với nhau; hoa màu vàng hay vàng cam, mào lông gồm 6-7 vẩy rời nhau hoặc hàn liền nhau. Hoa ở phía ngoài hình lưỡi nhỏ xoè ra, hoa ở phía trong hình ống và nhỏ. Quả bế có 1-2 vẩy ngắn.


Cây ra hoa vào mùa đông cho tới mùa hạ.

Bộ phận dùng: Hoa, lá và rễ - Flos, Folium et Radix Tagetis Erectae.

Nơi sống và thu hái: Loài cây của Mỹ châu nhiệt đới (Mêhicô), được trồng làm cảnh nhưng cũng thuần hoá ở chỗ nóng, ẩm và sáng. Trồng bằng ngọn hay mầm nách; cũng có khi gieo hạt. Thu hái hoa vào mùa xuân, hè, phơi khô ngoài nắng. Thu hái lá quanh năm, thường dùng tươi.

Thành phần hoá học: Toàn cây chứa 0,01% tinh dầu (ở mẫu khô lên đến 0,06%) có mùi thơm, mà thành phần gồm có d-limonen, ocimen, l-linalyl acetat, l-linalool, tagetone và nonanal. Hoa chứa chất màu là quercetagetin, từ các cánh hoa khô, người ta đã chiết được quercetagitrin và một glucosid của quercetagetin.

[​IMG] ​

Tính vị, tác dụng: Cúc vạn thọ có vị đắng, mùi thơm, tính mát; có tác dụng tiêu viêm, làm long đờm, trị ho. Có tác giả cho là cây có tác dụng thông khí, trị ho; lá làm mát phổi gan, giải nhiệt; còn hoa thanh tâm, giáng hoả, tiêu đờm.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: thường dùng trị 1. Bệnh đường hô hấp, đau mắt (viêm kết mạc); 2. Ho gà, viêm khí quản; 3. Viêm miệng, viêm hầu, đau răng. Dùng ngoài chữa viêm tuyến mang tai, viêm vú, viêm mủ da. Liều dùng 10-15g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài, nghiền hoa với ít giấm để đắp, nghiền rễ tươi và lá chữa viêm mủ da.

ở Campuchia, người ta dùng lá non làm rau ăn sống hay nấu canh.

ở Ấn Độ, hoa được dùng trị đau mắt, mụn nhọt độc; dùng trong uống lọc máu; dịch hoa tươi dùng trong bệnh trĩ chảy máu; lá được dùng đắp mụn nhọt, dịch lá được dùng trị đau tai

Đơn thuốc:

1. Ho gà; dùng 15 hoa, sắc nước và thêm đường cát để uống.

2. Đau răng, đau mắt; dùng 15 hoa Cúc vạn thọ sắc nước uống.

3. Viêm tuyến mang tai, viêm vú; dùng Cúc vạn thọ, Thất diệp nhất chi hoa, Kim ngân hoa với lượng bằng nhau, nghiền ra và thêm giấm để đắp chỗ đau.​

[​IMG] ​

Cúc vạn thọ chữa hen, tăng cường thị lực.

Vốn mang sẵn ý nghĩa ngay trong chính tên của mình cúc vạn thọ là hình ảnh trường sinh của cuộc sống Người Phương đông coi cúc vạn thọ là biểu tượng của hạnh phúc vĩnh hằng. Tính lâu bền và thời gian lưu giữ vẻ đẹp của nó dài hơn nhiều loài hoa khác. Do đó hoa cúc vạn thọ thường được dùng vào mục đích thờ cúng trang trí ngày Tết và làm đẹp. Trong y học cúc vạn thọ xúng đáng là một loài hoa xuân có nhiều đóng góp trong việc bảo vệ sức khỏe và phòng chống bệnh tật. Dược liệu có vị đắng cay mùi thơm tính mát không độc có tác dụng kháng khuẩn chống viêm tiêu đờm làm se giảm đau, trừ giun sán được dùng trong những trường hợp sau:

Dùng riêng hoa cúc vạn thọ 20g giã nát trộn với ít đường hấp cơm dùng uống chữa kiết lỵ. Bột hoa chấm vào chỗ đau chữa đau nhức răng. Cao nước của hoa có tác dụng trên vi khuẩn gram dương. Cao lỏng từ rễ lại dùng nhuận tràng. Nước sắc hoặc nước hãm cả cây chữa tê thấp, nhiễm lạnh, viêm phổi, giun sán.

Bài 1: Chữa hen: cúc vạn thọ 20g phối hợp với rau cần trôi, củ tầm sét thài lài tía nhân trần rễ bạch đồng nữ tinh tre mỡ mỗi thứ 10g thái nhỏ phơi khô sắc với 400ml nước còn 100ml uống làm 2 lần trong ngày.

Bài 2: Bổ dưỡng, tăng cường thị lực: hoa cúc vạn thọ 20g, gan gà 50g băm nhỏ nấu ăn.

Bài 3: Chữa ho gà: hoa cúc vạn thọ 20g, hoa đu đủ đực 10g, húng chanh 10g, đường phèn 20g. Tất cả dùng tươi rửa sạch giã nhỏ cho vào bát cùng đường phèn. Hấp cách thủy trong 10-15 phút. Để nguội nghiền nát thêm nước gạn uống làm 2-3 lần trong ngày.​

[​IMG] ​

Dùng ngoài:

Bài 1: Chữa bỏng (nhẹ), mụn nhọt đau tai: lá cúc vạn thọ để tươi rửa sạch giã nát đắp chữa bỏng mụn nhọt và ép lấy nước chữa đau tai.

Bài 2: Chữa viêm vú: hoa cúc vạn thọ phối hợp với kim ngân hoa, lá đại bi, lượng đều 30g, rửa sạch đắp vào nơi viêm.

Ngoài ra, tinh dầu cất từ hoa cúc vạn thọ có màu vàng đỏ từ thân và lá có màu vàng lục được gọi là dầu Tagetes mùi thơm hắc được dùng trong ngành hương liệu.​

Một số thông tin khác

Cúc vạn thọ còn có tên là "xú phù dung", "hồng cúc", "bá cúc", "lý khổ ngải", "phong oa cúc", "kim hoa cúc", "kim kê cúc", ... tên khoa học là Tagetes erecta L., thuộc họ Cúc (Asteraceae).

Cúc vạn thọ là loại cây thảo, mọc đứng, cao 0,6-1m, phân nhánh thành bụi, có cành nằm trải ra. Lá xẻ sâu hình lông chim, các thùy hẹp, dài, nhọn, khía răng cưa. Đầu hoa tỏa tròn, rộng 3-4cm hay hơn, mọc đơn độc hay tụ hợp thành ngù; lá bắc của bao chung dính liền với nhau; hoa màu vàng hay vàng cam; hoa ở phía ngoài hình lưỡi nhỏ xòe ra, hoa ở phía trong hình ống và nhỏ. Quả bế.​

[​IMG] ​

Cúc vạn thọ vốn là loài cây có nguồn gốc ở Nam Mỹ, nhưng hiện tại đã được thuần hóa và trồng khắp những nơi nóng, ẩm, nhiều ánh sáng trên khắp thế giới. Có thể trồng bằng ngọn hay mầm nách, hoặc là reo hạt.

Để sử dụng làm thuốc, chủ yếu dùng hoa. Lá, thân và rễ cũng có thể sử dụng làm thuốc, trong phạm vi bài viết này xin phép không đề cập.

Theo Đông y: Cúc vạn thọ có vị đắng, mùi thơm, tính mát. Có tác dụng bình can thanh nhiệt, trừ phong, hóa đàm (tiêu đờm). Có thể dùng chữa trị váng đầu hoa mắt, đau mắt do phong hỏa (viêm kết mạc), trẻ nhỏ động kinh, ho gió (ho do cảm mạo), viêm khí quản, ho gà, viêm tuyết vú, viêm tuyến mang tai (quai bị), mụn nhọt lở loét ngoài da.​

Liều dùng:

Uống trong, dùng 10g-15g sắc nước uống. Dùng ngoài, giã đắp hoặc nấu nước tắm, rửa.​

Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy:

- Về thành phần hóa học: Đã phát hiện trong hoa cúc vạn thọ các chất patuletin, quercetagetin, patulitrin,quercetagitrin, α-terthienyl, Z-ocimenone, E-locimenone, limonene, β-caryophyllene, tagetone, piperitone, piperitenone, helenine, helenien, rubichrome, violaxanthin, allopauletin, isoeuparin, ...​

[​IMG] ​

- Về phương diện tác dụng dược lý: Tinh dầu trong hoa cúc vạn thọ có tác dụng an thần, kháng viêm, giãn phế quản, chống co giật và giảm đau. Chất helenien trong hoa cúc vạn thọ có tác dụng xúc tiến chức năng của võng mạc; chất lutein có tác dụng kiềm chế quá trình lão hóa võng mạc ở người cao tuổi. Một số nghiên cứu gần đây còn phát hiện, chất quercetin có tác dụng kháng ung thư tương đối mạnh. Còn phát hiện, chất α-terthienyl trong hoa cúc vạn thọ có tác dụng ức chế nhất định đối với virus HIV.​

Chúng tôi xin giới thiệu một số bài thuốc tương đối đơn giản có dùng cúc vạn thọ để bạn tham khảo:

- Chữa ho gà: Dùng cúc vạn thọ 15 bông; sắc lấy nước, hòa thêm đường đỏ vào uống.

- Chữa viêm khí quản: Dùng cúc vạn thọ 30g, cát cánh 6g; sắc lấy nước uống.

- Chữa viêm kết mạc, mắt đỏ đau: Dùng cúc vạn thọ 15g; sắc lấy nước uống.

- Chữa viêm tuyến mang tai (quai bị): Dùng cúc vạn thọ, thất diệp nhất chi hoa (cây 7 lá 1 hoa), kim ngân hoa, lượng bằng nhau; nghiền nát, hòa với giấm, đắp vào chỗ đau.​

[​IMG] ​

- Sa dạ con sau khi đẻ: Dùng cúc vạn thọ, nấu lấy nước, đổ vào chậu rộng miệng, xông hậu môn và cửa mình.​

Tác dụng của hoa đu đủ đực




Đu đủ có nhiều giống khác nhau, song với từng giống cũng có tới 3 loại đó là đu đủ cái, đu đủ đực (loại này chỉ có hoa đực thành dải dài, không kết quả) và đu đủ lưỡng tính là loại ra hoa thành dải dài, sau đó hoa kết quả nhưng bé như quả cau không lớn được, cả ba loại này đều có thể sử dụng làm thuốc trị nhiều bệnh; nhưng ở đây xin chỉ nói đến các loại thuốc được sử dụng từ đu đủ đực để mọi người cùng tham khảo.

- Trị ho cho trẻ em: Lấy hoa đu đủ đực (loại vừa mới chớm nở) từ 10 - 20g. Sau trộn với đường kính hoặc mật ong càng tốt. Đem hấp cơm trong 15 đến 20 phút là được. Lấy ra dùng thìa nghiền nát nhuyễn, rồi chia ra 2 - 3 lần cho trẻ uống trong ngày. Chiêu cùng với nước sôi để nguội. Vài ba ngày sẽ khỏi.

[​IMG] ​

- Ho kèm theo mất tiếng (viêm họng thanh quản): Hoa đu đủ đực 15g, lá hẹ 15g, hạt chanh 10g. Để tươi rồi nghiền nát cả 3 thứ, sau đó hòa với 20ml nước lọc, cho thêm chút mật ong hoặc đường kính cho uống 2 - 3 lần trong ngày. Cần uống như vậy 2 - 3 ngày liền.

- Ho nhiều do viêm họng: Hoa đu đủ đực 15g, xạ can 10g, mạch môn đông (củ) 10g, húng chanh (tần dày lá) 10g. Cho tất cả các vị trên (đã rửa sạch) cùng chút muối ăn vào bát và đem hấp cơm chừng 15 - 20 phút. Lấy ra nghiền nát, rồi chia ra cho ngậm trong 2 - 3 lần trong ngày, cần nuốt từ từ cho thuốc tác dụng trực tiếp vào nơi họng viêm.

- Trị ho gà: Hoa đu đủ đực 50g, dây tơ hồng 50g, rau má 35g, lá xương sông 20g, lá hẹ 15g. Tất cả sắc với 1.500ml nước, còn lại 500ml, thêm 75g đường kính, ngày uống 2 lần, mỗi lần uống 100ml.

- Chữa đái rắt, đái buốt, đau niệu đạo, nước tiểu ít và đỏ: Hoa đu đủ đực (hoặc quả của cây đu đủ đực lưỡng tính) 40g, lá bạc thau 60g, đậu đen 40g, phác tiêu 4g. Sắc lấy nước đặc, chia 3 lần uống vào lúc đói bụng.

- Chữa tưa lưỡi ở trẻ: Lấy quả đu đủ đực thái nhỏ phơi khô, tán bột mịn, cùng với gốc cây mây (lấy chỗ mọc khô ráo), rồi đốt thành than, tán bột. Trộn hai loại bột này với nhau với tỷ lệ 3 phần bột quả đu đủ đực, 1 phần bột gốc mây. Sau đó lấy tăm bông chấm thuốc bôi hàng ngày đánh trên lưỡi trẻ bị tưa.

[​IMG] ​

- Chữa rắn cắn: Rễ đu đủ đực 20g, lá xuyên tiêu 10g, hồng bì 5 hạt, tất cả giã nhỏ cho nước vào trộn đều gạn nước cho người bị rắn cắn uống. (Lưu ý chỉ sử dụng kết hợp hay đơn độc khi điều kiện của y tế không có, vì có những loại rắn cực độc có thể tử vong ngay chưa kịp đưa đến cấp cứu, trị liệu).

Đu đủ không chỉ là loại trái cây ngon ngọt, mát, rẻ … mà còn có rất nhiều lợi ích cho sức khỏe mà không phải ai cũng biết. Đu đủ là nguồn cung cấp dồi dào các dưỡng chất chống ôxy hóa như carotene (tiền vitamin A), vitamin C …và các khoáng chất, kali, magiê và chất xơ. Những dưỡng chất này có tác dụng tăng cường sức khỏe tim mạch, phòng ngừa ung thư ruột kết… Bên cạnh đó, các quý bà còn sử dụng đu đủ như một loại mỹ phẩm từ thiên nhiên.

Đu đủ cũng là một trong những trái cây nằm trong danh sách hàng đầu giàu dinh dưỡng tốt cho cơ thể. Đu đủ giàu vitamin C, một loại vitamin cần thiết cho cơ thể giúp đẩy mạnh quá trình sản xuất các tế bào bạch cầu và kháng thể, tăng cường sức đề kháng, ngăn chặn sự xâm nhập và tấn công của virus gây bệnh vào cơ thể.

Trong 100g quả đu đủ có 74-80mg vitamin C và 500-1.250 IU caroten. Đu đủ còn có các vitamin B1, B2, các acid gây men và khoáng chất như kali, canxi, magiê, sắt và kẽm. Ăn đu đủ thường xuyên có tác dụng bổ máu, giúp hồi phục gan ở người bị sốt rét. Các beta-carotene và vitamin C, E trong đu đủ làm giảm viêm nhiễm khắp cơ thể, giảm bớt những ảnh hưởng của bệnh suyễn.

Quả đu đủ có tác dụng chống xuất tinh sớm ở nam giới, lấy 250 gr đu đủ, thái nhỏ, đem ngâm với 1kg rượu nếp hoặc rượu trắng có nồng độ thấp trong hai tuần. Sau đó, có thể sử dụng với liều lượng: 15ml/lần, mỗi ngày uống hai lần, uống liền trong hai tuần. Bài thuốc này giúp quý ông trị chứng thận hư, xuất tinh sớm.

[​IMG] ​

Đu đủ là thực phẩm bổ dưỡng, rất giàu vitamin A, C và khoáng chất. Tuy nhiên, ăn đu đủ hoặc dùng những sản phẩm từ đu đủ trong thai kỳ vẫn còn là một vấn đề gây tranh luận và đang được tiếp tục nghiên cứu.

Thai phụ chỉ nên ăn đu đủ thật chín

Tại các nước phương Tây, nhất là Mỹ, người ta vẫn khuyên thai phụ nên dùng đu đủ chín (thật chín), vì đây là một loại thực phẩm chứa nhiều loại chất dinh dưỡng cần thiết cho thai nhi, với điều kiện phải thật chín và được dùng ở mức độ thích hợp.

Tại Mỹ, người ta còn tin rằng ăn đu đủ chín sẽ giúp thai phụ thoát khỏi tình trạng táo bón và ợ nóng (heartburn). Một số thai phụ đã ăn đu đủ (thật chín) hoặc đã dùng một số enzymes được bào chế từ đu đủ để ngăn ngừa chứng ợ nóng.

Còn tại Việt Nam, Ấn Độ, Philippines, thai phụ luôn “lánh mặt” đu đủ, nhất là đu đủ còn xanh hoặc chưa chín tới. Cũng đã có rất nhiều nghiên cứu cho thấy đu đủ xanh hoặc hường chứa rất nhiều enzymes và mủ, có thể gây nên sự co thắt tử cung với hậu quả là sẽ gây sẩy thai.

Vì vậy, những nghiên cứu này khuyên thai phụ không nên ăn đu đủ hoặc sử dụng các sản phẩm từ đu đủ. Các nhà nghiên cứu cũng cho biết rằng chất mủ có rất nhiều trong đu đủ xanh đã tác động theo cách “nhái” với tác động của prostaglandin và oxytocin, là những chất mà cơ thể rất cần để khởi động cho giây phút ra đời của đứa trẻ.

Prostaglandin và oxytocin tổng hợp được sử dụng rộng rãi như một chất “thúc đẻ”. Vì thế, khi chưa đủ ngày đủ tháng để đứa trẻ ra đời, nếu ăn đu đủ xanh thì người ta e rằng sẽ sẩy thai.

Phụ nữ ở Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka đã dùng đu đủ như là một phương cách tránh thai truyền thống. Những nghiên cứu ở thú vật cho thấy đu đủ có khả năng tránh thai và phá thai. Có nhiều khuyến cáo rằng nếu đang có thai hoặc đang chuẩn bị để có thai, tốt nhất không nên ăn đu đủ, nhất là đu đủ xanh.

[​IMG] ​

Ngọt ngào, căng mọng và quyến rũ, đu đủ được coi là loại quả của thiên thần. Không những thế, đu đủ giúp cải thiện sức khỏe hệ tiêu hóa, làm sạch đường ruột, tăng cường hệ miễn dịch, bảo vệ phổi và khớp và cũng là “vũ khí” chống ung thư hiệu quả.

Những nghiên cứu mới nhất cho thấy nó có thể làm ngừng sự tăng trưởng của các tế bào ung thư vú, di căn và bình thường hóa vòng đời của tế bào​

Làm ngừng sự phát triển của ung thư vú

Các nhà khoa học đã nghiên cứu 14 thực phẩm thực vật được ăn phổ biến ở Mexico để xác định khả năng làm ngừng sự phát triển của các tế bào ung thư vú.

Những loại quả gồm có quả bơ, ổi, xoài, dứa, nho, cà chua và đu đủ… Các loại quả này rất giàu beta-carotene, phenol, axit gallic và các chất chống ôxy hóa.

Họ phát hiện thấy chỉ duy nhất có đu đủ là có thể làm ngừng sự phát triển của tế bào ung thư vú. Nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí quốc tế Journal Food Science & Nitrition vào tháng 5 năm 2009.​

Nguồn lycopene chống ung thư dồi dào

Màu cam rực rỡ của đu cho thấy sự hiện diện của chất chống ung thư cực mạnh carotenoids. Không chỉ beta-carotene, lycopene cũng được tìm thấy với lượng rất phong phú. Các nhà khoa học ở trường ĐH Illinois (Mỹ) cho rằng hoạt động của các chất chống ôxy hóa này có tác dụng chống ung thư. Các nghiên cứu cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa việc ăn nhiều lycopene và nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt. Họ chỉ ra rằng nạp càng nhiều lycopene màu cam thì thì nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt càng thấp.

Nghiên cứu tại Australia trên 130 bệnh nhân bị ung thư tuyến tiền liệt cho thấy những nam giới ăn nhiều hoa quả và rau xanh giàu chất lycopene nhất như đu đủ sẽ giảm 82% nguy cơ phát triển ung thư tuyến tiền liệt.

Trong nghiên cứu này, trà xanh cũng được đưa vào như một chất kháng ung thư mạnh. Khi những thực phẩm giàu chất lycopene được kết hợp với trà xanh, hiệu quả sẽ tăng lên.​

Phục hồi sự tái tạo của tế bào để loại trừ ung thư

Hợp chất organo-sulfur được gọi là isothiocyanates tìm thấy rất nhiều trong đu đủ. Thí nghiệm trên động vật cho thấy isothiocyanates bảo vệ cơ thể chống lại bệnh ung thư vú, ung thư phổi, ung thư ruột kết và tiền liệt tuyến cũng như bệnh máu trắng. Và thực tế là chúng có thể phòng ung thư ở người bởi isothiocyanates có khả năng ngặn chặn sự lan truyền và phát triển của tế bào ung thư.

[​IMG] ​

Các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã làm rõ được cơ chế hoạt động của 1 loại isothiocyanate tìm thấy trong đu đủ, có tên BITC, là cơ sở cho mối liên quan giữa sự điều chỉnh của sự tái tạo và chết đi của tế bào. Khi tế bào ung thư chết đi, chúng sẽ không còn là vấn đề nữa.​

Đồng hóa các protein làm nhiệm vụ bảo vệ khối u ác tính

Quả và một số bộ phận trên cây đu đủ như lá, có chứa papain và chymopapain, những enzym bảo vệ mạnh mẽ mà có thể tạo ra những phản ứng dễ dàng trong cơ thể. Chúng cải thiện hệ tiêu hóa bằng cách giúp bẻ gãy các protein trong thực phầm thành axit amino mà có thể được kết hợp để tạo ra các protein mới trong cơ thể.

Enzym proteolytic bảo vệ cơ thể khỏi sự viêm nhiễm và giúp làm lành vết thương do bỏng. Chúng cũng hỗ trợ rất tốt cho quá trình liền sẹo thông qua hệ tiêu hóa, cho cả các vết thương trên bề mặt và dưới da.

Nghiên cứu cũng cho thấy sức khỏe thể chất và tinh thần của con người phụ thuộc vào khả năng sản xuất các loại protein mà cơ thể cần. Tuy nhiên, khi có tuổi, cơ thể sẽ ít sản xuất những enzym này từ thực phẩm và kết quả là lượng axi amino bị thiếu. Do lượng protein khó tiêu hóa nhiều lên sẽ dẫn tới sự tăng trưởng không mong muốn của các vi khuẩn trong đường ruột và gây thiếu một số lượng axit amino cần thiết cho cơ thể.

Ăn đủ đủ sau bữa ăn sẽ giúp cải thiện hệ tiêu hóa, giúp ngừa đầy bụng, trướng bụng và khó tiêu. Nó cũng rất hữu ích cho các trường hợp dùng kháng sinh vì nó cung cấp các vi khuẩn có lợi vốn đã bị tiêu diệt trong quá trình chống lại các vi khuẩn có hại. Khi hệ tiêu hóa sản xuất đủ các vi khuẩn thân thiệt, hệ miễn dịch sẽ được tăng cường và bảo vệ cơ thể chống lại cảm cúm và ung thư tốt hơn.

Là enzym proteolytic, papain có thể hủy diệt những ký sinh đường ruột. Để tẩy sạch các ký sinh trùng đường ruột, hãy uống một cốc nước đu đủ liên tục sau mỗi tiếng, kéo dài 12 tiếng liên tục cùng với nước dưa chuột ép hay nước đỗ xanh.

[​IMG] ​

Đu đủ cũng chứa fibrin, một hợp chất hữu ích khác không dễ tìm trong nhiều loài thực vật. Fibrin giúp giảm nguy cơ máu vón cục và cải thiện chất lượng tế bào máu, giúp thông mạch. Fibrin cũng rất quan trọng trong vai trò giảm thiểu nguy cơ tắc nghẽn mạch máu ở chân. Do enzym proteolytic có chứa fibrin nêng những người ngồi bàn giấy cả ngày có thể bổ sung enzym proteolytic để bảo vệ hệ mạch.

Enzym proteolytic còn có thể tiêu hóa và hủy diệt các tấm chắn bảo vệ các virus, các khối u ác tính, dị ứng, các loại men và một số khuẩn khác. Khi tấm chắn này bị phá hủy, các khối u và các vi sinh hoàn toàn có thể bị hệ miễn dịch tiêu diệt.

Những nghiên cứu mới đây đã phát hiện ra cây đu đủ và các chất lấy ra từ cây này có tác dụng bảo vệ chống lại bệnh ung thư bằng cách làm chậm lại sự phát triển của tế bào ung thư mà không có phản ứng phụ có hại nào. Phát hiện này được thực hiện ở Trường ĐH Florida, phối hợp nghiên cứu với ĐH Tokyo (Nhật Bản).

Kết quả nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Journal of Ethnopharmacology (Mỹ). Nhà nghiên cứu Trường ĐH Florida, người gốc Việt, Tiến sĩ Nam Dang làm Chủ nhiệm đề tài cùng với các đồng nghiệp tại Trường ĐH Tokyo cho biết, phát hiện của họ đã chứng minh các chất chiết từ cây đu đủ có tác dụng điều chỉnh hệ thống miễn dịch. Bằng cách đó, chúng góp phần tấn công vào các tế bào ung thư mà không gây một phản ứng phụ có hại nào trên các tế bào bình thường.​

Lá đu đủ - thuốc chống ung thư từ thiên nhiên.

Nghiên cứu của Tiến sĩ Dang đã được áp dụng để điều trị cho các bệnh nhân ung thư trong cộng đồng ở Việt Nam và Australia. Ông đã phát triển thành 4 loại thuốc chiết xuất từ lá đu đủ, dùng trong lâm sàng để làm chậm lại sự tăng trưởng tế bào ác tính của 10 loại bệnh ung thư khác nhau, cụ thể là ung thư đại tràng, ung thư vú, ung thư gan, ung thư phổi và ung thư tuỵ... Tác dụng có thể thấy ngay được trong vòng 24 giờ.

[​IMG] ​

Đề tài nghiên cứu hiện tập trung vào việc dùng lá đu đủ để chữa các ca ung thư dựa trên kinh nghiệm của người bản địa ở Braxin. Họ đã dùng lá đu đủ hàng nghìn năm nay chế biến thành thuốc để chữa các bệnh về gan, kể cả viêm gan A. Các nghiên cứu của TS Dang dùng lá đu đủ phơi khô làm nguyên liệu đầu.

Ông đã chứng minh dịch chiết từ lá đu đủ tăng được hàm lượng các phân tử báo hiệu, hỗ trợ hệ miễn dịch để tấn công vào các tế bào ung thư. Bằng cách thúc đẩy sự phân bào kiểu Th1, hệ miễn dịch được tăng cường khả năng chống lại “kẻ xâm lược”, mà không gây ra tác hại nào đối với tế bào lành.

Theo Tiến sĩ Dang, việc điều trị thử nghiệm trên các bệnh nhân ung thư tại Việt Nam và Australia đạt kết quả như nhau.

Không chỉ có công dụng làm đẹp da, đu đủ còn được biết đến như là thực phẩm “thần kì” cho phái đẹp đấy!​

Tốt cho tiêu hoá

Đu đủ không chỉ ngọt lịm, dễ ăn mà còn có công dụng hỗ trợ tiêu hoá nữa đấy bạn. Các nhà khoa học tìm thấy một enzym có tên là papain có trong quả đu đủ, enzym này cực kì tốt cho hệ tiêu hoá của chúng mình.

Nhiều loại thuốc hỗ trợ tiêu hoá có chiết xuất từ thành phần này của quả đu đủ đó nha! Con gái thường bị khó tiêu hơn con trai nên chịu khó măm măm đu đủ nhiều vào!​

Làm đẹp da

Công dụng này thì teen girl phải nghe mẹ nhắc ít nhất là một lần rồi nhỉ? Từ xưa, quả đu đủ đã được những “phu nhân” thuộc tầng lớp quí tộc xem như là một món ăn làm đẹp da.

Ngày nay thì sau nhiều nghiên cứu, công dụng làm đẹp da của đu đủ lại càng được chứng minh với khả năng làm da trắng hồng mịn màng và hơn nữa là ngừa được mụn.

Bạn có thể ăn đu đủ hoặc dùng nước ép đu đủ làm mặt nạ đều được.​

Tăng kích thước vòng 1

Nếu bạn đang quan tâm đến vấn đề cải thiện vòng 1 thì nên kết thân với đu đủ ngay đi. Các enzym đặc biệt trong quả đu đủ có khả năng kích thích sự sản sinh ra nhiều hormone nữ, giúp khu vực núi đôi căng đầy hơn.​

Ngừa ung thư hiệu quả

[​IMG] ​

Tất nhiên đu đủ không chỉ có tác dụng làm đẹp thôi đâu, bằng chứng là quả đu đủ chứa rất nhiều thành phần chống oxy hoá có khả năng ngừa bệnh ung thư và ngừa luôn cả chứng bệnh sỏi mật.​

Giúp giảm cân

Lại thêm một điểm cộng về vấn đề “nhan sắc”. Đu đủ tuy ngon thế, ngọt thế nhưng một 100g đu đủ chỉ chứa không đầy 32kcal.

Ăn 100g đu đủ thì bạn sẽ bớt thèm ăn cơm và các món ăn giàu calories khác. Nếu muốn giảm cân trước tết thì teen girl nên ăn đu đủ trước bữa ăn chính!​

Chống đau bụng những ngày đèn đỏ

Lần này thì không phải là điểm cộng cho quả đu đủ mà là ưu điểm của lá đu đủ đấy! Vấn đề đau bụng vào những ngày nguyệt san ghé thăm không xa lạ gì với teen girl nhưng dùng thuốc giảm đau mãi thì có hại lắm, thay vì vậy, bạn thử dùng lá đu đủ xem, nhớ là chọn lá tươi xanh nhá!​

Bổ mắt

Một công dụng phổ biến nữa của đu đủ là giúp mắt bạn sáng, khoẻ hơn vì trong đu đủ có chứa vitamin A.

Đối với người lớn tuổi thì đu đủ ngăn ngừa mắt mờ, đối với teen chúng mình thì đu đủ là thực phẩm hỗ trợ cực kì tốt trong những ngày học thi đấy!

So với nhiều loại trái cây khác, đu đủ rất có lợi cho sức khỏe tim mạch và đường ruột. Dưới đây là một số công dụng của đu đủ:

- Bạn nên ăn nhiều đu đủ để bổ sung vitamin A vì đu đủ chứa nhiều vitamin A, canxi và dồi dào nguồn kali.

- Đu đủ cũng chứa vitamin B, vitamin B-6, vitamin B-1 và riboflavin rất tốt cho hệ tiêu hóa. Nếu bạn bị rối loạn tiêu hóa hoặc muốn phòng ngừa chứng táo bón, hãy thử ăn đu đủ.

- Bên cạnh việc “chăm sóc” đường tiêu hóa của bạn, đu đủ cung cấp ít năng lượng và chứa nhiều chất dinh dưỡng rất phù hợp với chế độ giảm cân.

- Nếu bạn bị viêm khớp, loãng xương hoặc bị đau, đu đủ có thể xoa dịu cơn đau nhờ đặc tính chống viêm và giúp mau lành vết thương.

- Trái đu đủ rất giàu vitamin C giúp tăng cường hệ miễn dịch. Nếu thường xuyên bị cảm cúm do hệ miễn dịch suy giảm, bạn hãy bổ sung đu đủ trong chế độ dinh dưỡng để chống lại cảm cúm và ho.

- Hạt đu đủ ẩn chứa nhiều tác dụng ít được biết đến. Những hạt đu đủ nhỏ có chứa thuộc tính chống khuẩn giúp phòng ngừa suy thận, thanh lọc gan và đào thải độc tố.

[​IMG] ​

Đu đủ còn có tên: Phan qua thụ, Lô hong phlê (Campuchia), Mắc hung (Lào), Cà lào, Phiên mộc. Tên khoa học: Carica papaya L. Họ Đu đủ PAPAYACEAE.

Đu đủ là loại cây cao 6 – 7m, thân đứng thẳng, đôi khi có phân nhánh hoặc không phân nhánh, vỏ mang rất nhiều sẹo của cuốn lá; lá chỉ có nhiều ở ngọn; lá chia 6, 7 thuỳ, hình trứng, mép có răng cưa không đều. Lá to, cuống rỗng và dài 30 – 50cm, gân lá hình chân vịt. Hoa màu trắng nhạt hay xanh nhạt mọc ở kẽ lá; hoa thường khác gốc nhưng cũng có những kiểu tạp tính (vừa hoa đực, hoa cái và hoa lưỡng tính) hoặc đực cùng gốc (đực, lưỡng tính). Hoa cái có tràng nhiều ; hoa đực mọc thành chùm ở kẽ lá. Cụm hoa đực phân nhánh nhiều, cụm hoa cái chỉ có 2 – 3 hoa. Sau một tháng hoa thụ phấn. Lá mang hoa rụng để sẹo lại cây. Quả thịt dày, mọng, ở giữa rỗng, có nhiều hạt hình trứng ở hai lớp vỏ, vỏ trong cuốn màu xạm đen, vỏ ngoài mọng nước, quả hình trứng, to, dài 20 – 30cm, đường kính 15 – 25cm, lúc đầu có màu xanh lục, sau ngả màu vàng cam.

Đu đủ không chịu được lạnh mà thích hợp với vùng đất khô xốp, nhiều mùn; rất tốt ở vùng nhiệt đới nhưng không chịu được ngập nước quá 48 giờ. Đu đủ trồng bằng hạt, trồng đại trà bằng cách đào lỗ cách nhau 1 – 2m gieo 3 – 4 hạt cho mỗi lỗ. Đu đủ trồng sau hơn 10 tháng có thể thu hoạch được.

Đu đủ chín chứa khoảng 90% nước, 13% đường, không có tinh bột, có nhiều carotenoit; axit hữu cơ, vitamin A, B, C; Protit; 0,9% chất béo; xenlulozơ (0,5%); canxi (35mg); photpho (32mg); magiê; sắt; thiamin; riboflavin. Thành phần bay hơi là các cacbua monoterpen, các dẫn xuất furanic của linalol, isothiocyanat benzyl; các glucozit thơm và glucotropeolin.

Đu đủ xanh, ngoài các chất có trên còn có chứa 4% chất nhựa latex màu trắng đục là hỗn hợp của nhiều proteaza (loại men tiêu hoá chất đạm) trong đó chất chủ yếu là papain. Một cây Đu đủ trong một năm cho khoảng 100g nhựa (lấy quả khi quả còn non trên cây). Ngoài ra còn có chymopapain và papaya protenaza. Để lấy nhựa (papain thô), dùng dao cắt dọc quả Đu đủ xanh, cho nhựa chảy vào bát sau đó phơi nắng hoặc sấy khô ở 40 – 60oC. Tinh chế papain bằng cách hoà tan papain thô vào nước thành dung dịch, sau đó rót vào cồn 90 độ làm cho papain kết tủa sau đó lọc và sấy khô.

[​IMG] ​

Lá Đu đủ chứa ancaloit carpain, có tác dụng giống glucozit của Dương đại hoàng – tác dụng làm chậm nhịp tim, diệt amip. Hạt Đu đủ có glucozit caricin và myrosin.

Men papain có tác dụng như men papein của dạ dày, giống men trypsin của tuyến tuỵ trong tiêu hoá các chất thịt. Nó còn có thể ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Staphjllococ và vi trùng thương hàn rất nhạy cảm đối với tác dụng của papain.

Papain còn có tác dụng làm đông sữa và tác dụng làm giảm độc đối với toxin và toxanpunin: 18g papain trong dung dịch 2‰ trung tính được 10mg gricin là chất độc trong hạt Thầu dầu (bằng 10 liều độc của gricin) 2mg papain trung hòa được 4 liều độc của toxin uốn ván và 10 liều độc của toxin yết hầu. Papain còn trung hoà được độ độc của ancaloit như 12,5 papain trung tính được một liều độc strychnin bằng 2,5mg.

Bộ phận dùng làm thuốc của Đu đủ trong nhân dân và trong tân dược gồm có: Rễ, lá, hoa, hạt và nhựa (papain thô và papain tinh chế). Nó được sử dụng thay thế pepsin và pancreatin trong điều trị rối loạn tiêu hoá do thiếu men tiêu hoá, giúp tiêu hoá tốt chất đạm trong thức ăn.

Nhựa và hạt Đu đủ còn là thuốc tẩy giun tốt với nhiều loại giun, trừ giun móc (ankylostome). Đặc biệt có chất cacpain làm chậm nhịp tim, như một digitalin. Hạt Đu đủ còn có tính kháng khuẩn mạnh, dùng ngoài để làm sạch vết nhiễm trùng, dùng chế môi trường nuôi cấy và thuần nhất đờm.

Cần lưu ý: Tác dụng ngừa thai, sẩy thai của papain do hoạt tính của nó đối với progesteron của thai phụ.

Công dụng và liều dùng:

Quả Đu đủ xanh nghiền nát với nước dùng bôi mặt hoặc tay để chữa các vết tàn hương ở mặt, tay, còn dùng chữa chai chân và bệnh eczema…

[​IMG] ​

Đu đủ còn dùng trong kỹ nghệ chế bia, thực phẩm… Rễ Đu đủ sắc uống cầm máu trong bệnh băng huyết, sỏi thận… Hoa Đu đủ đực tươi hoặc phơi khô hấp với Đường phèn chữa bệnh hoviêm phế quản, khàn tiếng hoặc mất tiếng với người lớn. Vớitrẻ emdùng 5 – 10 hoa đực sao vàng, cho Đường phèn hấp hoặc chưng trong nồi cơm, uống trong ngày.

Khi hầm các loại thịt, xương cứng người ta thường dùng Đu đủ xanh để thức ăn mau nhừ. Đu đủ chín là món ăn bổ, giúp sự tiêu hoá các chất thịt, các protein…​

Các món rau hấp dẫn cho trẻ


Rau trộn hoa quả gồm nhiều loại quả tươi trộn lẫn với nhau, phù hợp cho bé từ độ tuổi ăn bốc trở đi. Món ăn không chỉ thơm ngon và còn giàu dinh dưỡng.

Thành phần: Dứa chín, cam, dâu tây, kiwi, táo, nho, chanh, đường (dành cho bé trên 1 tuổi).


Thực hiện: Với từng loại quả, bạn cần rửa sạch, gọt vỏ và thái dạng hạt lựu (hoặc dạng miếng to, tùy độ tuổi của bé). Cho tất cả nguyên liệu vào trong một chiếc bát rộng. Cuối cùng, bạn dưới lên đó sữa chua (hoặc nước chanh và đường). Trộn lại bát hoa quả một lần nữa. Chia làm 2 phần: 1 phần cho bé và một phần cho cả gia đình.

Lưu ý: Tùy khẩu vị, bạn có thể thêm lượng đường tùy thích vào bát salad. Nếu muốn mang đi picnic, hãy dùng nilon chuyên dụng dán chặt miệng bát salad lại. Nếu dưới sữa chua lên thì không cần trộn thêm đường. Có thể dưới sữa chua với một chút nước chanh tươi để món ăn có vị ngọt, chua nhẹ. Không thêm vào loại quả mà bé có tiền sử dị ứng.

Tương tự, bạn có thể làm món salad khác, bao gồm: dâu tây, táo, chuối chín, nho, dưa hấu, bưởi, kiwi, xoài, cam… Hoặc những loại quả mà bạn có, sao cho khi kết hợp, chúng đảm bảo và cân bằng vị chua, ngọt dịu. Nếu thấy vị quả nào không hợp, bạn hãy bỏ nó ra ngoài, ăn riêng. Dâu tây và kiwi là hai loại quả có vị chua dễ tính, trộn với nhiều loại quả khác đều hợp.

Ngoài sữa chua, kem cũng là nguyên liệu phù hợp để dưới lên bát salad. Chuối và táo sẽ sớm biến thành màu nâu. Để khắc phục, sau khi gọt vỏ, thái khúc, bạn hãy phết đều nước chanh tươi lên bề mặt táo và chuối, trước khi đem trộn salad. Nếu dùng không hết, hãy bảo quản món ăn trong tủ lạnh.

Theo Wikihow/M&B
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Cho bé ăn củ cải 

Củ cải giàu vitamin C, canxi, một ít chất xơ và protein. Cũng giống như một số loại rau củ khác, củ cải chứa chất ngọt tự nhiên, giúp bé ngon miệng.
Thời điểm cho bé ăn củ cải
Cha mẹ có thể tập cho bé ăn củ cải khi bé được khoảng 6-8 tháng tuổi. Cũng có thể cho bé ăn củ cải muộn hơn, ngoài 8 tháng tuổi vì củ cải được luộc (hấp) chín, cắt hình hạt lựu khá phù hợp khi cho bé ăn bốc.

Cách lựa chọn củ cải ngon

Tương tự phương pháp bạn chọn carrot. Củ cải ngon là loại không bị đổi màu khi bị cắt làm đôi và cũng không xuất hiện vết bầm rập trên bề mặt.

Nên bảo quản củ cải ở nơi thoáng mát trong phòng hoặc trong ngăn mát tủ lạnh. Chỉ nên cắt củ cải trước khi bạn chế biến nó. Với củ cải đã được gọt vỏ, thái lát, bạn nên để chúng trong một bát nước lọc, đặt vào ngăn mát tủ lạnh. Thời gian an toàn không quá 2 ngày.

Cách chế biến củ cải
Củ cải gọt vỏ, thái dạng hạt lựu, hấp chín và cho bé dùng tay bốc ăn. Hoặc bạn có thể luộc, nướng củ cải trong lò.
Ngoài ra, bạn có thể tham khảo cách làm dưới đây với món củ cải:

1. Củ cải nghiền nhuyễn
Củ cải được rửa sach, gọt vỏ, thái hạt lựu, sau đó bỏ vào nồi hấp cho đến khi củ cải chín mềm là được. Tiếp đến, dùng thìa dầm nhuyễn củ cải (có thể thêm chút nước lọc để hỗn hợp bớt đặc) trước khi cho bé thưởng thức.

2. Hỗn hợp củ cải, khoai lang
Hấp khoai lang và củ cải cho đến khi cả hai cùng chín mềm. Sau đó, dùng thìa dầm nhuyễn hỗn hợp trên trước khi cho bé ăn hoặc cắt khoai lang, củ cải thành dạng hạt lựu, cho bé ăn bốc.

Thực phẩm có thể trộn chung với củ cải là: táo, lê, carrot, lúa gạo, khoai lang; thịt gà, thịt bò, thịt lợn.

Theo: Mẹ & Bé
SÚP LƠ TRẮNG VỚI TRẺ EM 
Trả lời với trích dẫn

  1. Thời điểm cho bé ăn súp lơ trắng

    Súp lơ trắng không phải loại rau phù hợp cho bé mới tập ăn dặm. Bởi vì, nó gây nên hiện tượng xì hơi, khó tiêu ở bé.
    Có thể cho bé làm quen với súp lơ trắng khi bé được khoảng 8-10 tháng tuổi nhưng cũng có thể cho bé ăn súp lơ sớm hơn. Nếu bé có vấn đề ở hệ tiêu hóa thì nên lùi thời điểm cho bé ăn món này.

    Cách chọn súp lơ

    Kích cỡ của hoa súp lơ không ảnh hưởng đến mùi vị của nó. Vì thế, chọn loại hoa to hay hoa nhỏ đều được. Tuy nhiên, bạn chỉ nên chọn súp lơ khi nó còn lá xanh bao bọc bên ngoài vì những chiếc lá này sẽ bảo vệ phần hoa bên trong khỏi bầm dập. Sau đó, súp lơ có thể được cho vào một hộp nhựa, bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh.

    Cách chế biến

    Hấp là cách tốt nhất để bảo vệ chất dinh dưỡng có trong súp lơ trắng. Dù vậy, cũng không nên hấp lâu vì nếu chín quá, súp lơ sẽ có vị nồng và đắng.

    2 món ăn với súp lơ trắng

    1. Súp lơ trắng hấp: Súp lơ bỏ lá, rửa sạch. Tiếp đến, thái hoa súp lơ thành những miếng nhỏ và cho vào nồi hấp. Đến khi súp lơ mềm, dùng thìa tán nhuyễn và cho bé thưởng thức. Có thể thêm vào hỗn hợp chút nước lọc.

    2. Hỗn hợp súp lơ, bí ngồi và quả táo: Hoa súp lơ, bí ngồi rửa sạch, được thái thành khoanh nhỏ và cho vào nồi hấp đến khi mềm. Táo gọt vỏ, được xay nhuyễn. Sau đó, dùng thìa tán nhuyễn súp lơ, bí ngồi, trộn chung với táo được xay nhuyễn. Có thể thêm vào hỗn hợp chút nước lọc.

    Thực phẩm trộn chung với súp lơ trắng: táo; súp lơ xanh, đậu đỗ, bí ngồi, khoai tây; lúa gạo; thịt gà, thịt lợn, thịt bò.

    Theo Homemade - babyfood/M&B

Thông minh không do hoá chất


Thời gian gần đây, tràn ngập trên các phương tiện truyền thông là những quản cáo về các loại sữa, thực phẩm giúp thông minh cho trẻ bằng các loại Vi chất như DHA, ARA ... khiến cho nhiều phụ huynh đã tốn tiền vô ích ...
HÃY THÔNG MINH TRONG VIỆC GIÚP CON THÔNG MINH
Bệnh vì ham bổ sung "chất" thông minh
Không chỉ sữa mà rất nhiều thực phẩm DHA, ARA… được quảng cáo giúp trẻ thông minh. Theo các chuyên gia, việc dùng không đúng sẽ gây nguy cơ rối loạn chuyến hóa
Ngoài sữa, bột, bánh kẹo, rất nhiều các loại thực phẩm khác như mỳ tôm... cũng đều được quảng cáo có chứa DHA, ARA. Các sản phẩm này đều được bán với giá cao hơn rất nhiều so với bình thường, song các bà mẹ vẫn mua cho con vì nghe quảng cáo đó là một chất bổ cung cấp cho não bộ của trẻ em.
DHA - ARA gây lão hóa sớm và béo phì

Theo thạc sĩ Lê Quốc Thịnh, Bệnh viện Trung ương 71 Thanh Hóa, cho biết DHA là tên viết tắt của Docosa Hexaenoic Acid, một acid béo thuộc nhóm omega-3. Khi phân tích cấu trúc của não, các nhà khoa học thấy nó nằm trong thành phần cấu trúc màng tế bào thần kinh, do đó DHA được gọi là "gạch xây cho não người". DHA chiếm tỷ lệ rất cao trong chất xám (tạo ra sự thông minh) của não và trong võng mạc (tổng chỉ huy sự nhìn của mắt). DHA tạo ra độ nhạy của các neuron thần kinh, giúp dẫn truyền thông tin nhanh và chính xác.
Tuy nhiên, không phải DHA không có tác hại đối với cơ thể. Cần lưu ý DHA là axid béo chưa no có tính ôxy hóa rất mạnh. Khi được chuyển hóa trong cơ thể, đặc biệt là khi đốt cháy thành năng lượng, chúng sẽ làm tăng các gốc tự do, nguyên nhân của sự lão hóa, xơ vữa động mạch, thiếu máu...Vì vậy, cần phải cân nhắc cẩn thận mặt trái của việc bổ sung DHA bằng các thực phẩm công nghiệp chứ không nên lạm dụng. Không phải cứ dùng nhiều sữa, thực phẩm công nghiệp có DHA là sẽ thông minh hơn bình thường. Nhiều khi sử dụng không đúng sẽ bị nguy cơ mắc các bệnh thuộc về chuyển hóa.
Nên bổ sung bằng con đường tự nhiên

Tốt nhất, nên đưa DHA vào cơ thể qua con đường tự nhiên. Nếu chúng ta đa dạng hóa thực phẩm để bữa ăn có đủ khẩu phần dinh dưỡng từ thức ăn có nguồn gốc tự nhiên thì vừa cung cấp đủ DHA cho cơ thể vừa có mặt của các chất chống ôxy hóa thiên nhiên, giúp tránh các bệnh lão hóa sớm.

Thạc sĩ Thịnh khuyên, không nên kỳ vọng quá lớn vào những lời quảng cáo nếu không có một chế độ dinh dưỡng hợp lý, đầy đủ thành phần và một môi trường giáo dục tốt giúp trẻ hoàn thiện nhân cách và trí thông minh.


Nguồn cung cấp DHA cho cơ thể đứa trẻ cần được lưu ý ngay từ khi bà mẹ mang thai. Trẻ được cung cấp DHA ngay từ khi còn trong bụng mẹ sẽ phát triển trí tuệ tốt nhất. Khi mang thai các bà mẹ cần ăn nhiều cá, nhất là cá ba sa, cá ngừ, cá thu và dầu thực vật. Những thực phẩm vừa kể là nguồn omega-3 thiên nhiên quan trọng giúp đưa DHA vào bào thai. Sữa mẹ cũng có nhiều chất DHA. Khi trẻ ra đời nếu được bú mẹ thì nguồn DHA trong sữa mẹ sẽ giúp trẻ phát triển trí tuệ tốt hơn rất nhiều so với việc bổ sung từ các nguồn khác, vì cơ thể trẻ không có khả năng chuyển từ tiền tố DHA thành DHA. Đó là lý do các nhà khoa học khuyên các bà mẹ nên cho con bú mẹ tới 24 tháng.

Khi trẻ đến tuổi ăn dặm (từ 6 tháng), để có đủ sinh tố, khoáng chất rất cần cho sự phát triển của trẻ: mỗi ngày lấy 5 - 7 lá rau, một ít thịt, cá... xay, giã nhuyễn, nấu chung với bột gạo lức, thành bột khuấy cho bé ăn. Tập cho bé ăn thêm chuối chín tươi, nước cam... Trẻ 1 - 6 tuổi cũng cho ăn như trên nhưng số bình sữa bớt dần thì tăng thức ăn lên như thức ăn người lớn....
(Theo Tường Linh // Báo Đất Việt)

Điều chưa biết về calci


Vẫn biết canxi là thành phần không thể thiếu đối với sự phát triển của cơ thể, đặc biệt là đối với xương, răng, sự đông máu, hoạt động truyền tín hiệu của tế bào thần kinh và sự co cơ…

Tuy nhiên, có lẽ ít ai biết lượng canxi thích hợp cho cơ thể là bao nhiêu? Nên bổ sung canxi bằng cách nào? Những kiến thức cơ bản, sau sẽ giúp bạn hiểu hơn về canxi, tác dụng cũng như những mặt trái của nó.


Nhóm thực phẩm tập trung nhiều canxi.
Thông thường bạn có thể bổ sung canxi bằng cách uống viên nén canxi hay thông qua các loại thực phẩm giàu canxi. Tuy nhiên, các chuyên gia khuyến cáo, đối với trẻ nhỏ việc bổ sung canxi nên thu nạp bằng cách ăn các loại thực phẩm chứa hàm lượng canxi lớn.
Những nhóm thực phẩm tập trung nhiều canxi như sữa (có chứa 306mg canxi, sữa đã gạn kem, sữa không có chất béo hoặc ít chất béo), sữa chua (có chứa 448 mg canxi),  pho mát, kem, các món canh xương, rau lá xanh đậm (có chứa 245mg canxi) và đậu phụ.
Ngoài ra, các loại đồ hải sản cũng chứa rất nhiều canxi, như các loại cá, nhất là cá hồi, cá mòi, tôm hùm.
Việc bổ sung canxi cũng đặc biệt quan trọng đối với các em trong giai đoạn dậy thì, cơ thể được cung cấp đủ canxi trong thời kỳ này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho xương có thể phát triển tối đa. Mỗi ngày những em trong độ tuổi trưởng thành chỉ cần uống từ 4-5 cốc sữa hay sữa chua đã có thể đáp ứng lượng canxi cần cho sự phát triển của cơ thể và xương.
Những loại canxi cần thiết cho trẻ.
- Canxi carbonat
- Canxi xitric
- Canxi Glubionate
- Canxi lactac
- Canxi photphat
Bạn cũng nên hiểu rằng, muối canxi ngoài khả năng cung cấp canxi, nó còn có thể cung cấp một số chất khác cần thiết đối với cơ thể. Ví dụ như carbonat và gluconat, trong chúng không chỉ có chứ muối canxi mà còn chứa một lượng nguyên tố canxi.
Bên cạnh việc bổ sung canxi, bạn cũng nên bổ sung thêm một lượng magiê (khoảng 500 đến 700 mg mỗi ngày) và vitamin D ( khoảng 400 mg/ ngày). Bởi Magiê và canxi chính là chất “xúc tác” giúp cơ thể nhanh chóng chuyển hóa và hấp thụ canxi.
Xin nói thêm với bạn rằng, nếu sử dụng viên nén canxi, mỗi lần chỉ nên “nạp” tối đa 500 mg canxi vào cơ thể, nếu lượng canxi lớn hơn mức 500 mg,  cơ thể bạn sẽ không có khả năng hấp thụ được nó. Ngoài ra, trong trường hợp bạn muốn bổ sung lượng canxi lớn hơn mức 500 mg, cần chia nhỏ ra nhiều lần trong một ngày.
Một số tác dụng phụ của canxi như:
Khi quá lạm dụng canxi bạn sẽ gặp phải những rắc rối sau:
- Tiêu chảy và đau bụng.
- Rắc rối xảy ra với tuyến giáp
- Trường hợp nếu trong máu của bạn có chứa quá nhiều canxi, sẽ dẫn đến triệu chứng hypercalcemia hay việc dư thừa canxi trong nước tiểu sẽ dẫn đến chứng bệnh hypercalciuria
- Gây nên bệnh thận và sỏi thận.

Liều lượng canxi thích hợp theo độ tuổi.
Nhu cầu canxi của cơ thể thay đổi tuỳ theo lứa tuổi, phụ thuộc vào quá trình phát triển và chu kỳ sống của xương. Sau đây là liều lượng canxi/ ngày mà các chuyên gia Hoa Kỳ khuyên cáo theo độ tuổi.
-  Trẻ dưới 3 tuổi: Từ 400 - 800 mg
-  Trẻ từ 4 - 6 tuổi: khoảng 800mg
-  Trẻ từ 7 - 10 tuổi: Khoảng 800mg
-  Các em nam trong độ tuổi teen: Từ 800 - 1200mg
-  Các em nữ trong độ tuổi teen: Từ 800 - 1200mg
-  Phụ nữ trong giai đoạn mang thai và cho con bú: Từ 800 -1200 mg
-  Phụ nữ trong thời kỳ tiền mãn kinh: Từ 1000 - 1500 mg
Tuy nhiên, việc thu nạp liều lượng canxi còn phụ thuộc vào sức khỏe tại thời điểm đó của bạn.
Lưu ý: Canxi còn có khả năng làm giảm huyết áp, hạn chế nguy cơ mắc các bệnh tim mạch ở phụ nữ hậu mãn kinh, loãng xương, Canxi cũng có khả năng khống chế một số chất béo và cholesterol trong đường ruột - dạ dày.
Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt nên tránh bổ sung canxi. Và việc sử dụng canxi có thể làm suy yếu chức năng của các loại thuốc khác, như viên sắt, kháng sinh, hay các loại thuốc trị huyết áp cao. Chính vì lý do này, cho nên bạn không nên sử dụng viên canxi trong khi dùng các loại thuốc nói trên.
KHỔNG THU HÀ (Theo AC)

Đăng ký: Bài đăng(Atom)